Sa la – một loài cây cảnh quý hiếm

Anh Đỗ Tầng, người chơi cây kiểng nổi tiếng ở TP. Cần Thơ cho biết: “Trước cơn lốc đô thị hóa hiện nay, nhiều công trình xây dựng như công viên, khách sạn, khu du lịch, nhà nghỉ, khu di tích, biệt thự… đã đua nhau mọc lên, nhu cầu cây xanh, cây cảnh, đặc biệt là kiểng trang trí ngoại thất ngày càng trở nên khan hiếm. Do đó, nhiều tay chơi kiểng đã ráo riết săn tìm những cây có dáng đẹp, giá trị nghệ thuật cao, đặc biệt là những cây có giá trị tâm linh như sanh, si, đa, bồ đề, lộc vừng, sa la… để cung cấp cho các công trình hoặc các đại gia mê phong thủy…”.

Sa la từng được coi là cây “thiêng”, thường trồng ở các vườn chùa, nhất là chùa Khmer ở Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng… Theo Phật học từ điển, Sa la, hay Sa la song thọ, còn gọi là Ta la (tiếng Phạn: Sala), có nghĩa là “kiên cố”. Theo sử sách, cách nay 2.556 năm (theo Phật lịch), Thái tử Tất Đạt Đa đã sản sinh ở gốc cây Vô Ưu , trong vườn Lâm Tì Ni, và khi thành Phật, ngài cũng nhập diệt giữa 2 cây Sa la tại Câu Thi Na. Từ đó, cây Sa la được Phật tử coi là một loài cây cao quý. Hoa Sa la mọc ra từ thân cây chứ không phải từ cành. Hoa thường trổ suốt từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch hàng năm. Cuống hoa dài, cánh hoa to, màu đỏ hồng tươi tắn và mùi thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng. Hoa thường nở vào buổi sáng, đến trưa thì tàn. Theo quan niệm của các nhà sư, hoa này tàn thì hoa khác tiếp tục nở nhằm biểu hiện một triết lý vô thường và giải thoát. Cũng theo truyền thống của Phật tử Nam tông, họ thường dùng hoa Sa la làm biểu tượng để trang trí cho ngày Phật đản. Chính vì ý nghĩa và giá trị nói trên mà nhiều nghệ nhân cây cảnh Việt Nam đã coi Sa la là loại cây quý hiếm.

 THÀNH HIỆP

 Theo trang Thừa THiện – Huế Online

Đây là một loài cây gỗ lớn thường xanh hoặc bán thường xanh thuộc họ Lộc vừng (Lecythidaceae), có nguồn gốc ở Nam Mỹ, với tên khoa học lúc đầu (1775) là Couroupita guianensis (guianensis: ở Guyana), sau đó (1857) là Couroupita surinamensis(surinamensis: ở Surinam) với một loạt tên đồng nghĩa khác nữa; phân bố khắp vùng nhiệt đới cực bắc Nam Mỹ đặc biệt là lưu vực Amazon (Colombia, Venezuela, Guyana, French Guiana, Surinam,, Ecuador, Peru, đông và tây nam Brazil) và Nam Caribe với tên gọi tiếng Anh là cannonball tree. Ngoài ra, cũng được trồng phổ biến ở Ấn Độ và Thái Lan.

Ở Việt Nam, sa la còn được gọi dưới tên phiên âm Hán Việt là tha la hoặc gọi theo thể tượng hình là đầu lân do hoa của nó khi nở có hình thái trông tựa như đầu con kỳ lân.

Có lẽ thành phố Hồ Chí Minh là nơi di thực trồng cây sa la sớm nhất nước ta và hiện nay có thể tìm gặp ở nhiều điểm như chùa Già Lam, Thảo Cầm Viên, vườn Tao Đàn, khu du lịch Bình Quới…
Hiện nay, trong khuôn viên nhiều chùa Phật giáo ở miền Nam và miền Trung cây sa la cũng được trồng khá phổ biến.
Như đã dẫn, là một loài cây gắn liền với huyền sử Phật giáo, nên việc được trồng phổ biến ở các chùa là điều tất yếu, nó là một biểu tượng đầy ý nghĩa đạo giáo không chỉ cho các bậc chân tu ở các chùa mà còn cho hằng ngàn phật tử thường xuyên viếng chùa, hơn thế nữa hoa của nó có mùi thơm dìu dịu, dùng để thiết án thờ cúng Phật rất tốt.
Một điều cần bàn là hiện nay trên các diễn đàn báo chí đang có sự nhầm lẫn giữa cây sa la với cây vàng anh, thậm chí với cả cây đàm ưu truyền thuyết. Có người cho rằng cây sa la là cây vô ưu khi cho rằng Đức Phật Thích Ca đản sinh dưới gốc cây sa la và cũng nhập niết dưới 2 gốc cây sa la (sa la song thụ), rồi luận rằng chính vì thế mà tín đồ của Phật đã gọi sa la là vô ưu. Tuy thế, trên thế giới rất ít tài liệu gọi sa la là vô ưu, chỉ gọi cây vàng anh (tên khoa học là Saraca indica, họ Vang – Caesalpiniaceae) sorrowless tree có nghĩa là vô ưu. Loài cây này có lá kép dạng lông chim, khi non có màu tím, mọc rủ xuống, cành nhánh mềm mại, hơi rủ, tán lá thấp, rất phù hợp với truyền thuyết Hoàng hậu Maya hạ sinh Thái tử Siddhartha khi vít cành vô ưu trong vườn Lumbini…
Theo y học cổ truyền của Ấn Độ, quả của sa la có tính kháng sinh, kháng khuẩn, trị nấm, chống viêm nhiễm và giảm đau; vỏ cây được dùng trị cảm lạnh và chữa chứng đau dạ dày, xổ giun; dịch chiết từ lá dùng trị bệnh ngoài da, khử trùng vết thương; lá non trị được chứng đau nhức răng. Người dân bản xứ ở Nam Mỹ thì dùng cả vỏ thân, lá và quả để trị sốt rét.
Ngoài việc sử dụng trong y học, thịt quả được dùng chăn nuôi gia súc, gia cầm như lợn (heo), gà, vịt, gà tây.
Sa la thích đất ẩm ướt, ở vùng nguyên bản, người ta tìm thấy nó sống ở những vùng đất thấp trong những khu rừng nóng ẩm. Cây ưa sáng, thích điều kiện chiếu sáng toàn phần nhưng chịu được rợp bóng nhẹ.
Ở Huế, sa la được trồng ở một số chùa Phật giáo như Huyền Không sơn thượng, Tăng Quang, Bảo Quốc, Pháp Hải… Trong đó, 2 cây ở tiền sảnh chùa Tăng Quang, đường Nguyễn Chí Thanh có tuổi đời lớn nhất (trên 60 năm).
Cây dễ nhận biết do có lá dạng trứng thon ngược trông như lá cây lộc vừng (mưng), mọc chụm đầu cành; hoa mọc thành chùm ở thân, dài đến 1,5 m, chếch xuống gốc, hoa có dạng đối xứng lưỡng trắc, có mùi thơm nhẹ dễ chịu; đài hoa dạng ống; tràng hoa 6 cánh màu đỏ thắm, đáy vàng; nhị đực rất nhiều, nhỏ, xếp trên một đĩa cong lạ mắt; quả tròn như quả bóng, to 15-20 cm, có vỏ hóa gỗ cứng, hạt mềm, nhiều hột.
Đỗ Xuân Cẩm

Bài khác nên xem

Lương y cửa Phật “mách” bài thuốc đơn giản trị cao huyết áp

phuocthanh

Ba người phụ nữ vinh danh nghệ thuật ẩm thực Huế: Trương Đăng Thị Bích, Hoàng Thị Kim Cúc, Hoàng Thị Như Huy.

phuocthanh

Lâm-Tỳ-Ni

phuocthanh