Tưởng nguyện Hòa thượng Ân sư thượng Đức hạ Chơn – cố Đệ nhất Thượng thủ Hội đồng Tăng Già Bản Thệ

Thành kính tưởng niệm Húy nhật lần thứ 5 (10.10.ÂL Nhâm Dần) Đức cố Trưởng lão Hòa thượng Đệ nhất Thượng thủ Hội đồng Tăng Già Bản Thệ (nguyên là Hội đồng Tăng Già Chứng minh Gia Đình Phật tử Việt Nam).

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG
VIỆN CHỦ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM
THƯỢNG THỦ HỘI ĐỒNG TĂNG GIÀ BẢN THỆ
ÂN SƯ GĐPT VIỆT NAM

  1. THÂN THẾ:

Cố Trưởng Lão Hòa Thượng húy thượng Nguyên hạ Mỹ, tự Đức Chơn, hiệu Hải Tánh, thế danh Phạm Hữu Thầm, sinh năm 1932 tại làng Quy Lai xã Phú Thạnh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Xuất thân trong một gia đình nhiều đời chánh tín Tam bảo, thân phụ là cụ ông Phạm Hữu Vân, Pháp danh Nguyên Đàm, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Lành, pháp danh Nguyên Mẫn. Thuở nhỏ, Hòa thượng thường theo song thân đến chùa lễ Phật, tu tập hạnh lành. Do ngưỡng mộ cao phong và tâm lượng hoằng pháp của bậc Thầy lớn húy thượng Trí hạ Thủ, Hòa thượng đã xin phép song thân xuất gia đầu Phật tại Chùa Ba La Mật, Cố Đô Huế, được Thầy ban cho pháp danh Nguyên Mỹ.

Tuổi hành Điệu tin ròng kinh luật, một mực hầu Thầy. Siêng năng dứt dục nhiễm thế gian, thường ưa thích nơi lan nhã vắng lặng, được Nghiệp Sư cho thọ giới Sa Di, pháp tự Đức Chơn. Trong thì siêng năng tô bồi công khắc niệm, ngoài thì mở rộng tâm đức bất tránh, nói nín động tịnh thảy đều như pháp, được bậc Thầy cho đi học tại Phật Học Viện Báo Quốc, Ngài là thế hệ học Tăng thứ 3 của Phật Học Viện nổi tiếng đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Năm 1955, thấy đệ tử của mình đã đầy đủ phẩm hạnh, Đức Tổ mới cho phép Hòa thượng đăng đàn thọ Cụ Túc Giới tại Phật Học Viện Trung Phần, Hải Đức, Nha Trang.

Như quán thấy tâm hành là thuần thiện, đức độ thì chân thật, có thể đem công hạnh tu tập để hòa mình vào biển tánh tỳ lô, nên Ngài Bổn Sư đã ban cho pháp hiệu là Hải Tánh và bài kệ phú pháp vô cùng khoáng đạt:

“Ba trừng tâm nguyệt hiện

Nhãn ế loạn hoa sanh

Đức Chơn tâm thường tịnh

Hải tánh tự nhiên thành.”

Sau khi thọ giới Cụ Túc, năm 1957, Hòa thượng theo Thầy Bổn Sư vào học tại Phật Học Viện Trung Phần, Hải Đức, Nha Trang. Bấy giờ, chính Hòa thượng Bổn Sư làm Giám viện, nên Hòa thượng vừa học, vừa làm thị giả hầu Thầy suốt những năm tháng tại Phật Học viện. Hình ảnh vừa học vừa hầu Thầy đã sáng ngời trong mắt chúng Tăng về một vị Tăng còn rất trẻ nhưng đoan nghiêm và phạm hạnh.

  1. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO:

Sau mùa Pháp nạn 1963, Hòa thượng vào Sài Gòn tu học và hành đạo. Trong thời gian này, Hòa thượng đảm nhận các Phật sự: Trụ trì chùa Long Huê – Gò Vấp, Trụ trì tu viện Quảng Hương Già Lam, Chánh Đại Diện GHPGVNTN xã Hạnh Thông Tây. Khi về trụ trì Chùa Long Huê, Hòa thượng đã khai sinh GĐPT Quảng Hương (nay là GĐPT Đức Chơn), trợ duyên và bảo bọc GĐPT hết lòng.

Năm 1968, Hòa thượng về lại Nha Trang, Khánh Hòa đảm nhận các công tác Phật sự: Khai sơn chùa Thị Hội Phật Giáo Cam Ranh, làm Chánh Đại Diện GHPGVNTN thị xã Cam Ranh, phụ trách Giám đốc nhà in Hoa Sen thuộc Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức, Phật Học Viện Hải Đức, Nha Trang. Trong thời kỳ việc hoằng pháp có nhiều thuận lợi này, Hòa thượng đã góp công đức rất lớn trong việc tổ chức tu học, nâng cao kiến thức Phật học của Phật tử thông qua kinh sách, ngay cả việc tạo điều kiện tài chánh để đóng góp kinh tài cho Giáo Hội và các Phật Học Viện hành hoạt được thuận duyên.

Sau khi nước nhà thống nhất, cũng chính là lúc lòng người ly tán, Hòa thượng được Bổn Sư giao phó trụ trì Quảng Hương Già Lam, phụ giúp Ân Sư trong công việc hoằng pháp. Đặc biệt, Ngài đã phụng hành ý chỉ của Tôn Sư, tổ chức và chăm lo cho lớp Cao Đẳng Phật Học, lớp Phật Học duy nhất trong cả nước thời ấy được đào tạo với trình độ ngang bằng đại học. Thời kỳ này nhờ có những bậc Giáo thọ uyên thâm, thạc học như Hòa Thượng Minh Châu, Thượng Tọa Tuệ Sỹ, Thượng Tọa Trí Siêu, Thầy Nguyên Hồng, nên tuy không phải Học Viện chính quy, nhưng rất nhiều Tăng sĩ trẻ đã vân tập về Già Lam tu học. Những giáo trình kinh luật, ngoại ngữ Phạn, Pali, cho đến việc biên soạn, ấn hành kinh sách vẫn được thực hiện dù hoàn cảnh vô cùng khó khăn, tất cả đều nhờ tâm nguyện lớn của Đức Trưởng lão thượng Trí hạ Thủ và sự chăm lo của Hòa thượng trụ trì. Rất nhiều học tăng thành danh sau này, từ trong nước đến hải ngoại đều khắc ghi những năm tháng đáng nhớ này, những năm tháng kéo dài từ 1975 đến 1984, khi Đức trưởng lão thượng Trí hạ Thủ viên tịch.

Từ sau năm 1984, Hòa thượng kế nghiệp Tôn sư duy trì mạng mạch Phật pháp tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, tiếp Tăng độ chúng, duy trì đời sống tu học của hàng trăm vị Tăng từ khắp nơi về nương tu học, và Ngài còn làm chỗ nương tựa tinh thần cho GĐPT truyền thống tu học trong vai trò Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPT Việt Nam, Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPT Gia Định, Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPT Đức Chơn.

Dấu chân in đậm tâm hạnh từ bi của Ngài đã góp phần khai sơn, trùng kiến các Niệm Phật đường, Tự Viện tại các vùng kinh tế mới cho Phật tử niềm Trung di cư nương tựa tu học, và đó cũng chính là nhân duyên để GĐPT được khai mở, thực hiện sứ mạng giáo dục tuổi trẻ theo con đường Phật pháp, nuôi dưỡng lý tưởng tình Lam.

Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, Ngài đã khai sơn Chùa Viên Thành, Chùa Phúc Hậu tại Tỉnh Bình Phước. Đến năm 2016, Hòa thượng hoan hỷ nhận lời cầu thỉnh của Phật tử tại Nam Định, đứng ra vận động tài chánh, hướng dẫn tinh thần, và tổ chức trùng kiến Chùa Quan Âm, huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.

Từ năm 2004, Hòa thượng ủy thác Phật sự trụ trì Tu viện cho Hòa thượng Thích Nguyên Giác, Ngài được Môn phái suy tôn Viện chủ Tu viện Quảng Hương Già Lam, và Ngài cùng với Hòa thượng trú trì tổ chức đại trùng tu Tu viện dưới sự hộ trì của tứ chúng.

Tại Đại hội bất thường GHPGVNTN tổ chức tại Tu viện Nguyên Thiều, Hòa thượng được cung thỉnh đăng lâm pháp tịch thành viên Hội đồng trưởng lão Viện Tăng Thống, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.

Đối với tổ chức GĐPTVN, Hòa thượng luôn dành tình yêu thương bảo bọc, chở che cho tổ chức GĐPTVN truyền thống vượt qua nội ma ngoại chướng. Ở vào những giai đoạn khó khăn nhất, mới cảm hết được lòng yêu thương của Ngài đối với lý tưởng Nhà Lam. Ngài như một tàng đại thọ tỏa bóng mát chở che, như mẹ gà dang đôi cánh rộng ấp ủ đàn con. Bao nhiêu BHD, Huynh trưởng, Đoàn sinh khắp các tỉnh thành và cả hải ngoại đã quy tụ về, đoàn kết yêu thương vượt qua sóng gió, tất cả đều nhờ ân đức của Hòa thượng.

Trước chướng duyên bủa trùm ngôi nhà Áo Lam Truyền Thống, Hòa thượng đã cùng Chư vị Tôn Đức thương yêu GĐPTVN công bố Bản Thệ Tăng Già làm nơi quy ngưỡng cho tứ chúng, đồng thời kiến lập Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPTVN, tác thành mọi Phật sự của GĐPTVN trên toàn Thế giới. Bằng công hạnh và đức độ cao vời, ân thâm nghĩa trọng, Chư tôn Thiền Đức đã cung thỉnh Ngài đăng lâm pháp tịch Thượng Thủ Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ từ năm 2012 cho đến ngày viên tịch.

  1. NHỮNG HÀNH TRẠNG SAU CÙNG:

Suốt những năm tháng đương vi Thượng Thủ, Hòa thượng càng trải lòng cùng bao nhiêu Phật sự từ Thừa Thiên đến Khánh Hòa, từ Ban Mê đến Đà Lạt, từ Gia Định đến Miền Tây,… lan ra đến cả hải ngoại, Hòa thượng quang lâm đến các Tự Viện của Môn phái trong các dịp tái kiến trùng tu, chứng minh hay thuyết linh hóa độ trong các tang lễ của Huynh trưởng, Đoàn sinh GĐPT các cấp.

Năm 2013, Ngài vị tác Đường Đầu Hòa Thượng Giới đàn Đức Nhuận, tháng 10 năm 2017, Ngài vị tác Đường Đầu Hòa Thượng Giới Đàn Thiện Minh do Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPTVN tổ chức. Hòa thượng còn là vị Thầy Bổn Sư truyền giới cho hàng ngàn Phật tử, làm Đường Đầu Hòa Thượng các giới đàn truyền Thập Thiện Giới, Tại Gia Bồ Tát Giới do Tu viện Quảng Hương Già Lam, BHD Trung Ương GĐPTVN, BHD GĐPTVN trên Thế Giới kiến lập tại Việt Nam, Thái Lan.

Sau giới đàn Thiện Minh tổ chức tại chùa Phật Ân, Long Thành, Hòa thượng trở về Tu viện Quảng Hương Già Lam, giữ nguyên thời khóa hành trì, an trú công phu niệm Phật như suốt mấy mươi năm qua, chưa từng xao lãng.

Bốn giờ sáng ngày 27 tháng 11 năm 2017 (nhằm ngày 10 tháng 10 năm Đinh Dậu), Hòa thượng đã thuận thế vô thường, an nhiên thu thần xả báo thân tại Phương trượng Tu Viện Quảng Hương Già Lam, thọ thế 86 năm, 62 hạ lạp.

Toàn thể Chư tôn Thiền Đức trong Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPTVN, Hội Đồng Huynh Trưởng Cấp Dũng, BHD, Huynh trưởng, Cựu Huynh trưởng, Đoàn sinh các cấp của GĐPTVN trên toàn Thế giới đã vân tập về Tu viện Quảng Hương Già Lam đảnh lễ, thọ tang, dâng lên những vầng thơ, nốt nhạc cúng dường một bậc Tông Tượng trong thiền môn, một bậc Thầy khả kính.

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế, trùng kiến Quảng Hương Già Lam Viện Chủ, húy thượng Nguyên hạ Mỹ, tự Đức Chơn, hiệu Hải Tánh Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ

Hội Đồng Giáo Giới GĐPTVN

Phụng soạn

Người đã ra đi – Bản Thệ vẫn còn…

Ý chỉ và hành động

Trong thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ 1954 đến 1963, Phật Giáo bị đối xử như một hội đoàn thông tục mà không phải là một Giáo Hội; Thiên Chúa Giáo được đối xử và hưởng đặc quyền của một Giáo Hội vượt lên trên quyền lợi của mọi hội đoàn qua Đạo Dụ số 10. Một Đạo Dụ đánh mất sự bình đẳng tôn giáo mà chính phủ Pháp đã chỉ đạo và mượn danh Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành ngày 6/8/1950. Đạo Dụ này đến thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1954-1963) vẫn tiếp tục áp dụng để khống chế quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, ngoại trừ Thiên Chúa Giáo.

Từ sự đối xử bất bình đẳng ấy, dẫn đến cuộc đấu tranh bất bạo động đòi hỏi tự do, bình đẳng tôn giáo của Tăng-Tín Đồ Phật Giáo Việt Nam đối với chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Năm 1963, chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh triệt hạ cờ Phật Giáo trong ngày đại lễ Phật Đản và bắn chết các Phật Tử tại Đài Phát Thanh Huế.

Từ đó, Tăng-Ni, Phật Tử yêu cầu chính quyền làm sáng tỏ sự việc: Ai là người chủ trương bắn chết Phật Tử tại Đài Phát Thanh Huế và yêu cầu chính quyền tôn trọng tự do nhân quyền và bình đẳng tôn giáo, đáp ứng 5 nguyện vọng của Phật Giáo Đồ do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam lãnh đạo.

Chính quyền bấy giờ đã không đáp ứng 5 nguyện vọng chính đáng này của Tăng-Tín Đồ Phật Giáo mà lại còn đàn áp Tăng-Tín Đồ Phật Giáo mỗi ngày mỗi thêm khốc liệt. “Máu đã đổ, Tăng-Ni Phật Tử chúng tôi sẵn sàng đổ máu!” khiến ngọn lửa đại hùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức bùng lên đầu tiên vào ngày 11/6/1963 tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, bên ngoài Tòa Đại Sứ Campuchia ở Sài Gòn; ngọn lửa Thích Thanh Tuệ, Thích Tiêu Diêu bùng lên ở Huế; Thích Nữ Diệu Quang bùng lên ở Ninh Hòa; Thích Nguyên Hương bùng lên ở Phan Thiết; ngọn lửa Quảng Hương bùng lên ở Công Trường Diên Hồng Sài Gòn sau chiến dịch “Nước lũ”; ngọn lửa Thích Thiện Mỹ bùng lên ở trước mặt Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn trong thời điểm phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến điều tra sự đàn áp Phật Giáo của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại Việt Nam, và rồi với biết bao tâm can nghĩa khí của Tăng-Ni, Phật Tử nguyện tiếp nối những ngọn lửa đại hùng dưới nhiều hình thức khác nhau, khiến cho sắt cứng phải mềm, đá cứng phải chảy và cho dù tâm hồn chai lì vô cảm đến đâu cũng chuyển động và thức tỉnh!

Ngọn lửa của Tôn Giả Quảng Hương đã bùng lên vào lúc 12 giờ 5 phút trưa ngày 5/10/1963, nhằm ngày 18.8.Quý Mão tại Công Trường Diên Hồng, trước chợ Bến Thành Sài Gòn sau chiến dịch “Nước lũ” ngày 20/8/1963 của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và trước khi Khối Á-Phi đưa vấn đề “kỳ thị đàn áp tôn giáo tại Việt Nam ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Trước khi tự thiêu, Tôn Giả đã để lại huyết thư gửi Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôn Giả Quảng Hương nói: “Đấu tranh cho đến cùng, khi nào quyền tự do căn bản được tôn trọng mới thôi”.

Chính những ngọn lửa này đã thúc đẩy cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật Giáo Đồ năm 1963 đi tới thành công, mà nhục thân của Tôn Giả Quảng Hương và nhiều vị Thánh Tử Đạo đã bị chính quyền đương thời cướp mất, cho đến giờ này không biết họ tiêu tán nơi đâu!

Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thiết lập tu viện ở Sài Gòn lấy tên Quảng Hương là để đào tạo những thế hệ Tăng Sĩ tu học ở nơi đây theo tinh thần và hạnh nguyện của Tôn Giả Quảng Hương, nghĩa là sẵn sàng hy sinh tính mạng để đuổi tà, hộ chánh; trấn giữ Già Lam, bảo vệ đạo pháp và dân tộc đến cùng.

Hòa Thượng Thích Đức Chơn được Bổn Sư ủy cử trách nhiệm trụ trì Tu Viện Quảng Hương Già Lam với ý chỉ ấy.

Phụng hành ý chỉ của Bổn Sư, Hòa Thượng Thích Đức Chơn sẵn sàng làm bất cứ điều gì, dù khó khăn đến mấy, dù gian nguy cỡ nào cũng một mực kiên trinh không hề thoái chuyển cho đến hơi thở cuối cùng.

Hòa Thượng Thích Đức Chơn khi đảm nhận trụ trì Tu Viện Quảng Hương Già Lam đã hết lòng với Bổn Sư và Chư Tôn Đức lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài cho Phật Giáo Việt Nam cũng như ươm mầm và nuôi dưỡng, tạo thành những sinh chất cho những thế hệ trẻ, mà cụ thể là tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Tổ chức “giáo dục thanh-thiếu-đồng niên trở thành những Phật Tử chơn chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật Giáo” này, bây giờ đã lan tỏa khắp cả năm châu bốn bể, góp phần làm vẻ vang trang sử Việt. Với cách nhìn xa, thấy rộng về pháp nhân, pháp lý tương lai của Gia Đình Phật Tử, Hòa Thượng đã chỉ đạo thành lập Hội Đồng Huynh Trưởng Cấp Dũng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam để tập thể Huynh Trưởng cấp Dũng chịu trách nhiệm sự thịnh suy của Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Thế Giới.

Hòa Thượng Thích Đức Chơn là người hết sức trân quý chí nguyện cao cả của Tôn Giả Quảng Hương nên khi làm trụ trì Tu Viện Quảng Hương Già Lam, Người đã để ra cả một thời gian khá dài đi tìm kiếm nhục thân của Tôn Giả Quảng Hương để xây cất bảo tháp thờ phụng nhưng không thể nào tìm ra dấu tích. Tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, mỗi buổi khuya, sau thời lễ Phật công phu, Chư Tăng tại tu viện đều xướng danh hiệu của Tôn Giả Quảng Hương để đảnh lễ, nhằm tưởng niệm và un đúc chí nguyện của bậc xuất trần thượng sĩ, vì pháp quên thân; đem “chí nhân” mà nhiếp phục hung tàn, đem “đại nghĩa” mà nhiếp phục những kẻ cuồng ngông.

Trong Đại Hội Bất Thường của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 2003 tại Tu Viện Nguyên Thiều – tỉnh Bình Định, Hòa Thượng Thích Đức Chơn đã được Đại Hội cung thỉnh vào thành viên Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Năm 2012, tại Tu Viện Quảng Đức – quận Thủ Đức, Sài Gòn, Hòa Thượng đã được Hội Đồng Tăng Già Chứng Minh cung thỉnh lên ngôi vị Thượng Thủ ở trong Bản Thệ Tăng Già.

Đối với Hòa Thượng, mọi Phật sự dù lớn, dù nhỏ và cho dù khó khăn đến mấy, thì Người vẫn hoan hỷ hành hoạt không có từ nan bất cứ một yêu cầu Phật sự nào.

Mới cách đây mấy tuần, lễ chung thất Cố Hòa Thượng Thích Quang Đạo tại Đồng Nai, Hòa Thượng đã đãi lao hiện tiền Chư Tôn Đức Tăng, ban đạo từ cho hàng ngàn Tăng-Ni, Phật Tử, “khuyến tấn tu hành, giữ gìn tinh nghiêm giới luật, tiếp nối mạng mạch Phật Pháp, phụng sự chúng sinh, báo đáp ân đức Thầy-Tổ”.

Vào ngày 17 tháng 9 năm Đinh Dậu, nhằm ngày 5 tháng 11 năm 2017, trong Giới Đàn Thiện Minh tại chùa Phật Ân – huyện Long Thành, Đồng Nai, Hòa Thượng làm Đàn Đầu thí giới Sa-di, Cụ-túc và Bồ-tát giới xuất gia cho các Giới Tử; và cũng tại ngay nơi trú xứ già lam này, Hòa Thượng đã chứng minh Đại Lễ Tưởng Niệm 40 năm kỷ niệm húy nhật của Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Nguyên Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo; Nguyên Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo; Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên và Chư Tôn Đức trong Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã viên tịch cũng như những vị Ân Sư quá cố, Tiền Bối hữu công của Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

Hạnh nguyện của Hòa Thượng là vậy, nên hơn bảy mươi năm trước, khi mới bắt đầu bước vào cửa Phật tại Tổ Đình Báo Quốc – Huế, xuất gia học đạo với Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Bổn Sư đã ban cho Người pháp danh Nguyên Mỹ, nghĩa là “người học trò có hạnh nguyện cao đẹp ngay nơi cội nguồn giác ngộ từ buổi sơ tâm”.

Bản Thệ Tăng Già

Trong kinh Đức Phật dạy: “Sự có mặt của Ngài giữa cuộc đời là vì sự lợi ích, sự an lạc cho thế giới Chư Thiên và loài người”. Ấy vậy, Chư Thiên sống trong tà kiến, loài người sống trong vô minh, chấp thủ năm uẩn là Ngã, khiến tham sân si, kiêu mạn dẫy đầy; nhận giặc làm con, nhận oan gia làm bằng hữu; mê lầm chân lý, tưởng khổ là vui; sống trong bất tịnh mà tưởng là thanh tịnh; sống trong trói buộc mà tưởng là tự do; sống trong ngăn cách mà tưởng là hòa hợp; sống đua đòi theo đám đông mà tưởng là hiện đại; sống trong đối phó mà tưởng là đang thực hành đại nghĩa, chí nhân; sống theo biển thức mê lầm mà tưởng là giác ngộ”.

Phật-Pháp-Tăng có mặt giữa cuộc đời là để hàn gắn lại những gì đã bị đổ vở; dựng đứng lại những gì đã bị xiêu vẹo; bật ngọn đèn chánh pháp cho mọi người thấy; dẫn đường cho mọi người đi, vượt qua đêm dài tăm tối tử sinh, vượt qua biển cả bão mưa dối trá, ngông cuồng… để đến bến bờ chân thật.

Hòa Thượng Thích Đức Chơn là một trong những vị Tăng Sĩ một thời đã từng đối diện với tử sinh; với tai trời ách nước; với lịch sử đầy cuồng nộ, bạo khí hung tàn nhưng không hề nao núng với chí nguyện Thượng Thừa, đi từng bước chân vững chãi như voi chúa lâm trận giữa những làn tên, giáo mác, giữa những binh khí miệng lưỡi khen chê, giữa những vu khống, đặt điều, Người đã cất cao tiếng gọi thỉnh mời những Tăng Sĩ xuất trần, vì chí nguyện Đại Thừa, với Trí-Bi song vận, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh, cùng nhau liên kết trong Bản Thệ Tăng Già, làm sở y cho Tứ Chúng đồng tu; làm ruộng phước cho thế giới Trời-Người gieo hạt; làm hải đăng cho những thuyền trưởng bị lạc hướng quay về; làm hải đảo an toàn cho những ai đã từng đánh mất nguồn cội, phế bỏ chơn nguyên; bưng ngọn đèn Chánh Pháp đứng giữa phong ba, mặc cho yêu ma la hét; mặc cho sấm chớp mưa sa, Người vẫn đứng đó trong Bản Thệ Tăng Già bất động để có thể hàn gắn lại những gì đã bị đổ vở, dựng đứng lại những gì đã bị xiêu vẹo, bật ngọn đèn cho mọi người thấy và chỉ đường cho mọi người đi, như Đức Thế Tôn một thời đã ân cần chỉ dạy Tăng Đoàn.

Người đã ra đi!…

Vào lúc 4 giờ khuya ngày 10 tháng 10 năm Đinh Dậu – tức ngày 27 tháng 11 năm 2017 – Hòa Thượng Thích Đức Chơn đã từ giã huyễn thân tại phương trượng Tu Viện Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn để ra đi, như bậc Thượng Sĩ đùa chơi trong gió sớm, hơi thở vút bay, chạm vào cõi trăng nước mênh mông, xuyên qua muôn ngàn ngõ ngách quán trọ, tuyệt bặt thanh âm, chứng nhập cõi Uyên Nguyên muôn đời tịch mặc…

Huyễn thân của Người chừ đã trở thành mây trời lồng lộng, che phủ nắng quái, mưa chang để quê hương dập tắt tâm can sầu hận; huyễn thân của Người chừ đã trở thành những giọt nước Cam Lồ rưới tắt vọng kiến si mê nơi những kẻ yếu hèn bương theo danh lợi, cam lòng làm theo mệnh lệnh tà ma, quên mất đạo nghĩa thầy trò, quên mất chí hùng Thượng Sĩ; huyễn thân của Người chừ đã trở thành tiếng sấm hùng uy đánh thức những ai đang say mê nơi cung thành ảo vọng, tỉnh dậy xả buông hướng về Bảo Sở; huyễn thân của Người chừ đã trở thành ánh đèn ngời sáng rọi soi giữa trường dạ mênh mông khiến bao kẻ lạc đường quay về bến Giác, sống và hành hoạt theo Bản Thệ Tăng Già, chăm sóc hạt giống tốt đẹp cho hết thảy chúng sinh, làm nơi nương tựa cho Tứ Chúng và tổ chức Áo Lam “đào tạo những thanh-thiếu-đồng niên trở thành những Phật Tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật Giáo”.

Tuy Người đã ra đi, nhưng âm vang vẫn còn vang vọng như tiếng hải triều chạm vào núi đá, như tiếng gầm sư tử giữa chốn sơn lâm: “Hỡi những bậc có phước đức xuất gia! Hãy buông bỏ những tâm chí khiếp nhược, yếu hèn, tiếp nối chí hùng Phật Tổ, nhìn danh lợi như bụi bám vào mắt; xem vinh hoa như đôi dép bỏ, thấy phú quý như thấy miếng giẻ rách; chỉ đến và đi từ Bản Thệ Tăng Già, với Đại Nguyện Từ Bi, với Đại Tâm Vô Trú. Nếu không như vậy, há lại là những kẻ lạm xí Tăng Luân hủy hoại Chánh Pháp ư?!”.

“Kim Thế Hậu Thế Tịnh”

Hội Đồng Tăng Già Chứng Minh, Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh Gia Đình Phật Tử Việt Nam, Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Thế Giới, cũng như các Ban Hướng Dẫn trực thuộc đã làm lễ Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Đức Chơn, Viện Chủ Tu Viện Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, đương kim Thượng Thủ Hội Đồng Tăng Già Chứng Minh, vị Ân Sư của Gia Đình Phật Tử Việt Nam và Thế Giới vào lúc 19 giờ ngày 12 tháng 10 năm Đinh Dậu, nhằm ngày 29 tháng 11 năm 2017 trước Giác Linh Đài của Người tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn để tỏ lòng thương quý, tôn kính đức hạnh và nguyện lực của một Hành Giả, một bậc Thầy khiêm cung suốt đời “vô ngôn nhi giáo”, nói ít làm nhiều; âm thầm mà hùng dũng; nhẹ nhàng mà cương quyết; không là trí thức khoa bảng nhưng đầy chất liệu trí tuệ, thấy rõ chân giả hiện tiền nên khử vọng tùng chơn, buông quyền hiển thực; không là nhà nghiên cứu, học giả nhưng lại thâm nhập nghĩa lý Tiệm, Đốn của Phật-đà; nhận rõ huyền cơ Quyền, Thực của Thầy-Tổ trao truyền; không tư duy theo thói đời ao rãnh mà thẳng vào “biển tính trừng thanh”; sống có nghĩa tình với gia đình, quê hương, xứ sở nhưng không hành xử như những kẻ lưu tục phàm tình; sống hòa hài với đệ huynh, với tình linh sơn cốt nhục nhưng chánh tà minh bạch, mê ngộ rõ ràng; không phải là nhà chiến lược giỏi nhưng xuất nhập đúng thời, ứng xử đúng cơ, phát ngôn đúng tình, đúng lý…

Người là vậy, nên Hội Đồng Tăng Già Chứng Minh và Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh Gia Đình Phật Tử Việt Nam tưởng niệm Người với lời xưng tán: “Kim Thế Hậu Thế Tịnh”, nghĩa là: “Đời này thanh tịnh, đời sau thanh tịnh”. Và Trí Quang Thượng Nhân lại xưng tán Người: “Sinh Tử Như Chơn”, nghĩa là: “Sống ở trong Chân Như và chết ở trong Chân Như”.

Những lời xưng tán ấy, không phải là những lời tán dương đối phó hay những ca từ trống rỗng, mà là những lời thoát ra từ công hạnh ngày đêm miên mật hành trì của Người qua tám mươi sáu năm trú thế, gần bảy mươi năm tu tập, hành đạo, xuyên suốt những thời kỳ biến thiên lịch sử khôn lường, với nhiều thế hệ tiếp nối khác nhau…

Dù huyễn thân của Người đã ra đi với khói, với mây, với nắng chiều hắt qua song cửa, với hạt sương khuya rơi chạm thiền phòng, nhưng giữa cõi trăng sao, Bản Thệ Tăng Già của Người vẫn sáng ngời bất hoại!

Chùa Phước Duyên – Huế, ngày 05/12/2017
THÍCH THÁI HÒA

Bài khác nên xem

Sư tử hống thời phương thảo lục

phuocthanh

KIẾN ĐÀN HỘ ĐÀN

nhuanphap

Pháp thoại: Tương lai GĐPT Việt Nam

phuocthanh