Gương Sáng Đức Phật của HT Thích Huyền Vi

LỜI MỞ ĐẦU

Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.

Tập sách này gồm có bốn phần chính yếu:

-Phần thứ nhứt nói về gương sáng Đức Phật, Ngài đã trọn đời hy-sinh cho công cuộc cứu khổ nhân-loại. Phần nầy soạn theo tài-liệu Phạn-ngữ để giảng dạy cho Phật-tử Thủ-đô, đầu năm 1973.

-Phần thứ hai luận về gương sáng Tối-Thượng-Thừa do Hoằng-Nhẫn Tổ-sư cho ghi chép lại. Đây là gương chứng ngộ của đệ ngũ tổ, tuy bản văn hơi ngắn, nhưng đầy đủ huyền-nghĩa Đại thừa của Cổ-Đức về cách tìm lại chân tâm. Tập luận nầy giảng dạy cho sinh viên Phật-khoa năm thứ IV tại viện Đại-học Vạn-Hạnh.

-Phần thứ ba là bản văn gương sáng người xưa của Tổ-sư Tĩnh-Am, trong lúc Ngài ở chùa Phạm-Thiên, thuộc đất Cổ-Hàn. Ngài giảng dạy cho hàng thất chúng đệ-tử rất là thành khẩn và thống thiết. Bản văn này, chúng tôi đã giảng tại Ấn-Quang, sau khi từ Phật-quốc trở về. Noi theo gương sáng của Tổ Tĩnh-Am khuyên nhắc Phật-tử “phát tâm-bồ-đề, cầu đạo Vô-thượng chánh chân”.

-Phần thứ tư nói về gương sáng chư tổ Việt Nam: Đinh, Lê, Lý Trần và Hậu Lê, mỗi triều-đại đều có ghi lại một vị để làm gương-mẫu. Các bài này, chúng tôi giảng dạy cho các học-viên dự khóa thứ năm về lớp Lược-sử Phật –giáo ViệtNam thuộc cấp giáo-sử căn-bản.

Đức Thích-Tôn đã giảng trong kinh Pháp-cú như sau:

“Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam divà ca ratto ca niccam Buddha-gatà sati.

Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam diva ca ratto ca niccam Dham-ma-gatà sati.

Suppabuddham pabujjhanti sadà Gota-masàvakà,

Yesam diva ca ratto ca niccam Sangha-gatà sati”.

Người thường tự tỉnh giác là đệ tử của Đức Phật, ngày đêm phải suy nghĩ, một lòng tưởng kính Phật (noi gương chư Phật). Người hiểu biết khôn khéo là đệ tử Đức Phật, ngày đêm phải tìm hiểu, hết lòng tưởng niệm Chánh-pháp (noi theo Chánh-pháp). Người thường suy nghĩ cao xa là đệ tử Đức Phật, ngày đêm phải lo lường, nhất tâm nhớ nghĩ chân sư (noi gương Tổ-sư).

Những lời dạy cao thượng, những ý hướng siêu-việt và những hành động chân-chánh của chư Phật, tổ còn lưu lại, chúng ta cần phải noi theo để “tự hành, hóa tha” thì đời sống của chúng ta mới có ý nghĩa.

Tập sách nhỏ nầy chỉ là những bài thuyết trình giảng dạy được gom góp lại, nên không có sự liên tục từ phần nầy sang phần khác. Và cũng vì nhu cầu cấp bách của Phật-tử, nên không sao tránh khỏi những lỗi lầm đáng tiếc. Chúng tôi hy-vọng các bậc cao-minh và quí vị thiện-hữu tri-thức nhận thấy điểm nào sai lầm, xin hoan-hỷ cho biết, tôn ý, để kỳ tái-bản chúng tôi sẽ tu chỉnh lại cho được hoàn-bị hơn.

ẤN QUANG,ngày 15 tháng 8 năm Giáp-dần.

Điều-Ngự-Tử THÍCH HUYỀN-VI

01. GƯƠNG SÁNG ĐỨC PHẬT

Mừng thay chư Phật ra đời!

Mừng thay chánh pháp khắp nơi hoằng truyền!

Vui thay tăng chúng tịnh,thiền!

Vui thay thiện tín thắng duyên tu trì!

                                                H.V.

Muốn tìm hiểu và nghiên cứu bất cứ một tôn-giáo nào, trước hết chúng ta cần phải nhìn vào Giáo-pháp của Tôn-giáo ấy đối với xã-hội và nhân sinh thế nào. Tôn giáo ấy có đủ phương pháp đưa nhân sinh đến chỗ giải thoát an vui thật sự không? Đời sống của vị Giáo chủ ấy thế nào? Có đủ nhân cách, trí tuệ, tài năng để cho chúng ta sùng bái kính trọng không? Có hoàn toàn Chân,Thiện, Mỹ để soi đường cho chúng ta học tập và thực hành không? Đây là những điều kiện nhận thức đầu tiên của những ai muốn tin theo Tôn giáo mình đã, đang hay sẽ thực hành theo cho đúng đường lối.

Một trong những Tôn giáo lớn nhứt thế giới là Phật Giáo. Hiện nay Giáo Pháp của Phật đà đã truyền rộng khắp cả năm châu, bốn biển. Lẽ dĩ nhiên đời sống vị Giáo chủ của đạo này, mọi người đều muốn biết rõ ràng và thích tìm hiểu xác thật.

Sau đây, chúng tôi xin lược thuật đời sống của Ngài từ khi giáng sanh, xuất gia, thành đạo, rồi truyền bá Giáo pháp cho đến lúc nhập Niết Bàn.

Giáo chủ của Đạo Phật là Đức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyamuni) hoặc gọi là Cù-Đàm (Gautama),hoặc xưng là Tất Đạt Đa (Siddhàrtha). Mỗi danh từ trên đều có ý nghĩa đặc biệt riêng. Thích Ca là họ của Ngài, Tất Đạt Đa là tên của Ngài khi còn là Thái Tử. Các danh từ Mâu Ni, Phật Đà, Thế Tôn là do người đời tôn xưng, sùng kính, sau khi Ngài thành đạo, chứng quả. Cù Đàm là tên của hoàng tộc đặt ra, có nghĩa là “Võ môn thế hệ”.Sát đế lợi (Ksatriya) cũng thuộc về chủng tộc này. Chủng tộc Sát đế lợi trước kia từ Trung Á Tế Á, dần dần di chuyển về Tây bộ Ấn Độ, về sau lan khắp lưu vực sông Hằng (Gangà).

Thỉ tổ của giòng họ Thích gồm 33 đời truyền thống. Đời vua cuối cùng tên Thiện Tư (Vessantara). Từ vua Thiện Tư về sau mười đời thừa kế thịnh đạt. Đời vua thứ mười tên là Ma-di (Màtrkà). Từ vua Ma-Di về sau cùng một chủng tộc nối nhau, vua tên là Đại-thiện-Sanh (Mahàsujàto). Đây là thỉ tổ bảy đời của Đức Thích-Ca Mâu-Ni kế vua Thiện-Sanh là Sư-Ma-Úy (Sìmhanàda), Ưu-đà-La (Uttarà),Cù-đà-La (Godàna),Sư-tử-Giáp (Sìmhàsannaha). Vua Sư-từ-Giáp sanh được bốn vị hoàng-tử.Vị lớn nhứt là vua Tịnh-Phạn (Suddhodana), tức là phụ-hoàng của thái-tử Tất-đạt-Đa (Siddhàrtha) và Nan-Đà (Nanda), người thứ hai là vua Bạch-Phạn (Svetodana), tức là thân phụ của Đề-bà Đạt-Đa (Devadatta) và A-Nan (Ànanda). Người thứ ba là vua Cam-lộ-Phạn (Amrtodana), tức là hoàng-thân của thái-tử Ma-ha-Nam (Mahànàma) và A-na-luật-Đà (Anuruddha), người thứ tư là vua Hộc-Phạn (Dronodana) tức là thân phụ của Bà-ta (Vatsa) và Bạt-Đề (Bhadrika).

Hoàng -hậu, vợ vua Tịnh-Phạn là bà Ma-Gia phu nhân (Mayà-Devi). Nhờ phước đức của tổ tiên lưu lại, hoàng-hậu hạ sanh được một hoàng tử tên là Tất-đạt-Đa.Bảy ngày sau khi sanh vị hoàng tử cao quí này, Hoàng-hậu Mayà đã rửa sạch nghiệp báo, trút được xác phàm và sanh về cung trời Đao-Lợi (Tusita). Hoàng-tử được bà Di Mẫu ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề (Mahàprajàpati) nuôi dưỡng vô cùng chu đáo. Đến tuổi trưởng thành, vua Tịnh-Phạn chọn công chúa Gia-Du Đà-La (Yasodharà) cho Ngài. Một thời gian sau, công chúa sanh được một người con trai tên là La-hầu-La (Ràhula).

Thái-tử Tất-đạt-Đa đản sanh vào rằm tháng tư âm lịch, tức là ngày trăng tròn tháng năm (Vaisàkha) bên Ấn -Độ, cách đây 2598 năm,nhưng chúng ta tính theo ngày nhập Niết-Bàn (Parinirvàna) thì cách nay 2518 năm.

Nơi đản-sanh của Ngài là miền Bắc Ấn-Độ, thuộc địa phận nước Nepal ngày nay, một nước có nhiều phong cảnh tuyệt đẹp, ở ven sườn núi Hy-mã-lạp-sơn (Himalaya), một dãy núi cao nhứt thế giới.

Một hôm Hoàng hậu Mayà từ Ca-tỳ-la-Vệ (Kapilavastu), đến thành Câu-Lợi (Koliyan), quê quán song thân của bà. Đi được nửa đường, thấy vườn Lâm-tì-Ni (Lumbini), hoa cỏ xinh tươi, hoàng hậu bảo đoàn tùy tùng ghé vào cho bà ngoạn cảnh. Bỗng Thấy cành hoa Vô-Ưu (Asoka) mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải vói hái, thì Thái-tử cũng vừa xuất hiện nơi ấy.

Trên hư không, hoa Mạn đà La (Mahàmandàla) tung rải khắp nơi, hào quang chiếu sáng cả mười phương. Ngay lúc ấy có chín con rồng phun nước trong bồn vàng để tắm gội cho Thái tử. Ngài đi trên bảy hoa sen, tung hoành bốn hướng, từ kim khẩu của Ngài thốt ra câu : “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”(Aggo hamasmi setthohamasmi jetthohamasmi). Câu nói ấy báo hiệu đời sống huy hoàng, cao đẹp của Thái tử sau này.

Tin lành được tung ra, ai nấy đều vô cùng hoan hỷ. Ngày đản sanh Thái tử, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu trở nên mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa, kết trái, sông, hồ, ao, giếng, nước đều tràn đầy. Trong chốc lát, tin này truyền đến dân chúng hai bên bờ sông Hằng, khắp nước, rồi lan rộng cả thế giới. Mọi người đều ca ngợi và sùng bái tin này, vì họ tin tưởng đóa hoa Ưu đàm vừa mới xuất hiện, sẽ mang lại nhiều vinh quang cho nhân loại trong tương lai. Thái-tử-Tất-đạt-Đa là một Vương-tử tôn-quí, tiêu biểu dung nghi đỉnh đặc, chí khí cao nhân của bậc trượng phu. Ngài sẽ là bậc gương mẫu của dân chúng Ấn-độ vàNepalthời bấy giờ. Dân chúng tin tưởng Thái-tử sẽ là một vị lãnh đạo anh minh cho tương lai xứ sở.

Vui Tịnh Phạn vui mừng khôn xiết, Ngài cho mời các vị tiên tri đến để xem tướng cho Thái-tử. Đạo-sĩ A-Tư-Đà (Asita-rsị) cho biết: “ Thái-tử có đủ tam thập nhị tướng (Dvàtrimsad-varalaksana) và bát thập chưởng hảo (Asittyanuvyanjàni), là tướng của bậc anh-kiệt trên đời, nếu làm vua, Ngài sẽ là vị Chuyển-luân-thánh-vương, còn nếu xuất gia thì chắc chắn sẽ thành Phật”.

Thuở còn niên thiếu, Thái tử đã tỏ ra có nhiều thiên tài xuất chúng, trí huệ tuyệt luân, vì thế vua Tịnh Phạn thương mến, quí trọng hơn cả viên ngọc Ma ni báu đẹp. Năm lên tám, Thái tử bắt đầu nhập học, kiến thức của Ngài có thừa “ nhứt văn thiên ngộ”. Chưa bao lâu Ngài đã thông suốt bốn kinh Vệ-Đà (Veda), cùng các môn học về Ngũ Minh (Pancavidyà): Nội minh, công xảo minh, y phương minh, nhân minh và thanh minh. Từ văn chương cho đến võ nghệ, Thái tử học với thầy nào, chỉ trong ít hôm, vị ấy cũng phải xin cáo thối, vì không còn đủ sức để dạy Thái tử nữa. Cho đến ông thầy danh tiếng nhất thời bấy giờ, là Sằn-Đề-Đề-Bà (Visvàmitra) cũng đành chịu khuất phục.

Một hôm, trong nước có mở cuộc thi bắn dành cho Vương tôn, công tử. Các tay thiện xạ đều tập trung về để thi thố tài năng. Những người tài giỏi cũng chỉ bắn qua ba trống sắt, hoặc bốn trống sắt là nhiều, duy có Thái tử Tất Đạt Đa bắn thông bảy trống sắt. Các quan văn võ trong triều hoan hô nhiệt liệt, khán giả bốn phía reo mừng vang dậy cả xạ trường rộng lớn. Vua Tịnh Phạn hoan hỷ vô cùng, Ngài tin tưởng với tài trí tuyệt vời đó, Thái tử sẽ là người kế vị xứng đáng để giáo dân, trị nước.

Mặc dù thông minh xuất chúng, tài trí hơn người, nhưng Thái tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người. Ngài luôn luôn có thái độ hòa nhã, vô tư, lòng thương người và thương vật của Ngài thật không ai sánh kịp.Vì thế lúc nào Ngài cũng được quan quân yêu quí, nhân dân kính thờ.

Chí hướng của Thái tử khác hẳn với người thường, Ngài không muốn hưởng sự an vui một mình, mà quyết tâm cứu độ chúng sanh, vượt qua biển khổ sanh tử. Năm 15 tuổi, Thái tử theo vua cha ra ngoại thành, dự lễ hạ điền hàng năm. Ngài nhìn thấy sự vất vả nhọc nhằn của các nông phu, và cảnh cầm thú ăn tươi, nuốt sống lẫn nhau, mạnh được yếu thua. Rồi Ngài liên tưởng đến đời sống xa hoa của hàng quí tộc, xây dựng bất hợp lý trên những thống khổ của dân lành. Ngài quán xét tất cả chúng sanh chỉ vì sự ăn mặc, mà tìm cách giết hại lẫn nhau, khôn lấn dạu, mạnh hiếp yếu, kẻ có thế lực đàn áp kẻ cô thế, thật không gì đau xót cho bằng! Ngồi dưới cội cây, Thái tử trầm tư mặc tưởng, tìm cách giải khổ cho muôn vạn sanh linh.

Thấy Thái tử lộ vẻ suy tư, biếng ăn ít nói, vua Tịnh Phạn lo lắng vô cùng. Ngài truyền lịnh xây dựng ba tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ, để Thái tử thay đổi nơi ăn chốn ở cho hợp với thời tiết ba mùa và chọn hàng trăm cung phi mỹ nữ tài sắc, đàn hay múa giỏi để giúp cho Thái tử yêu đời. Thấy chừng ấy cũng chưa đủ, Đức vua còn ra lịnh thiết lễ quán đảng (Mùrdhàbhiskta) trao Ngọc ấn, ngôi vị cho Thái tử. Năm 17 tuổi, muốn an tâm chắc ý hơn, Đức vua làm lễ thành hôn cho Thái tử với công chúa con vua Thiện Giác (Suppabuddha) tên là Gia-du-đà-La, một thiếu nữ tài sắc, đức hạnh vẹn toàn.

Tuy sống trong cung vàng, điện ngọc, cung nữ đàn hát suốt ngày, nhưng Thái tử tự xem như bị giam hãm, không chút an vui. Một hôm, Ngài bảo người đánh xe ra bốn cửa thành dạo chơi. Ra cửa đông, Thái tử bỗng thấy một ông già, râu tóc bạc phơ, thân hình gầy yếu, run rẩy chống gậy, đi đứng rất khó khăn. Thái tử ngạc nhiên hỏi người đánh xe:

-Đó là người gì?

-Đó là một người già, thân thể ốm yếu, sức lực hao mòn, cảnh già nua không ai tránh khỏi.

Nghe nói như vậy, trong lòng không vui, Thái tử liền bảo quay xe qua cửa khác. Đến cửa nam, Thái tử thấy một người bịnh tật, nằm bên vệ đường rên la thảm thiết. Thấy vậy càng khổ tâm hơn, Thái tử truyền lịnh quay xe về hướng khác. Đến cửa tây, Thái tử thấy một xác chết, nằm ở đầu đường, ruồi lằng bu bám. Kinh hãi, Thái tử bảo đánh xe cấp tốc trở về hoàng cung.

Thái tử suy gẫm: giàu, nghèo, sang,hèn, không ai tránh khỏi cảnh khổ sanh,già, bịnh,chết, nếu không khéo ta cũng sẽ là nạn nhân của công lệ ấy mãi mãi.

Lần sau cùng, ra dạo chơi cửa phía bắc, Thái tử gặp một vị tu sĩ, tướng mạo đoan trang, mặc pháp y, mang bình bát, từ từ mà đi, thản nhiên như người vô sự. Tự nhiên thấy trong lòng phát sanh cảm mến, Thái tử vội vã đến gần, hỏi qua mục đích của sự tu hành, Tư sĩ đáp rằng:

-Tôi tu phạm hạnh, mục đích để cầu thành đạo quả, rồi tiết độ chúng sanh, thoát vòng lục đạo.

Thái tử nghe qua, chí xuất trần phát khởi , Ngài quyết định về xin phụ vương cho Ngài xuất gia (Pravrajjita) tầm đạo.

Mặc dù sống đầy đủ tiện nghi trong cung vàng điện ngọc, cạnh vợ đẹp hầu xinh, ngày đêm có trăm ngàn cung phi mỹ nữ đàn ca xướng hát, nhưng Thái tử không chút say đắm.Tâm trí Ngài lúc nào cũng suy nghĩ tìm phương pháp để cứu độ chúng sanh, thoát khỏi cảnh triền phược của đời ngũ trược (Pancakasàya):kiến trược, kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạn trược, để đưa mọi loài đến bờ giác ngộ.

Năm 19 tuổi, chí xuất trần quá mạnh, Thái tử quyết định ra đi, để giải thoát cho muôn loài chúng sanh. Một đêm khuya, thừa dịp quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ ngủ say, sau một buổi dạ yến linh đình, Thái tử lén dậy, nhìn vợ con từ biệt lần cuối, rồi vội vã ra đi, Ngài đánh thức tên cận vệ Xa-Nặc (Channa), bảo thắng con ngựa Kiền-Trắc (Kanthaka) cho Ngài, rồi hai Thầy trò cùng nhau trốn ra khỏi thành. Đến Tuyết-Sơn, Thái tử bảo Xa-Nặc dắt ngựa trở về, còn Ngài đi vào khu rừng gần đấy, cạo bỏ râu tóc, trở thành một tu sĩ hiền đức. Nơi rừng sâu núi thẳm, Ngài tìm cầu chân lý với các Ngài A-Lam Ka-Lam (Àlàra Kàlàma), Uất-đầu-Lam (Gayasiya), theo tìm học với ông Aratakalama và các đạo sĩ khác.

Trải qua năm năm trường tầm đạo gian lao khổ sở, nay đây mai đó, học hỏi với các vị đạo sĩ danh tiếng,thăm hỏi các vị tiên nhân ở thâm sơn cùng cốc, rốt cuộc Ngài vẫn chưa tìm ra phương pháp giải thoát cho mình và cứu độ chúng sanh.

Lúc bấy giờ, Bồ -tát Tất-đạt-Đa mới đến Khổ hạnh lâm (Dongosirì), quyết chí tu khổ hạnh một mình, mỗi ngày chỉ ăn một ít mè, một ít bắp, thân hình càng ngày càng tiều tụy, chỉ còn da bọc xương. Ngài sống như thế ròng rã sáu năm trường, nhưng cũng không thấy ánh sáng giác ngộ đến với Ngài, Bồ-tát nhận thấy tu khổ hạnh chỉ là một lối ép xác, làm thân thể trở nên khờ khạo vô ích, nếu muốn tìm đạo cho có kết quả, cần phải bồi dưỡng thân thể cho được khỏe mạnh.Ngài chuyển biến tác phong, thọ lãnh bát sữa bột của nàng Su-già-Ta (Sujàtà) dâng cúng.

Sau khi thọ thực, sức khỏe của Ngài dần dần phục hồi, Ngài thấy mình có đầy đủ sức lực có thể chiến đấu cuối cùng với bóng tối si mê và dục vọng, để đem lại ánh sáng giác ngộ cho đời. Lúc bấy giờ Bồ tát giác ngộ cho đời. Lúc bấy giờ Bồ tát đến dưới cội cây Bồ đề, ngồi kiết già (Ujkutukàsana), vận dụng tất cả trí lực, bi lực và vô hạn tinh tấn lực để tu thiền định, Ngài phát đại nguyện:

-“Nếu không thành bậc Đại Giác Ngộ, thà chết không đứng dậy chổ ngồi này”.

Với chí hùng dũng cương quyết ấy, Ngài nhập Đại định (Mahàsamàdhi) 49 ngày, chiến đấu với bọn giặc phiền não ở nội tâm như: tham lam (Lobho), giận tức (Doso), si mê (Moho), ngạo mạn (Mãno) v.v cũng như bọn giặc thiên ma ngoại cảnh do Ma vương ba tuần làm đầu.

Sau khi quét sạch nội chướng cũng như ngoại chướng, Ngài hoát nhiên đại ngộ, thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Anuttara Samyak sambodhi) thấu triệt mọi vấn đề vũ trụ nhân sanh, thành bậc Vô thượng trong nhân gian, hiệu là Thích-Ca-Mâu-Ni.

Đức Phật thân chứng bậc Chánh Giác, năm Ngài được 30 tuổi. Đại nguyện được thành, “ cầu thành Phật quả, trên đền đáp bốn ân sâu, dưới cứu vớt ba đường khổ”. Ngài quyết đem chân lý mà Ngài đã giác ngộ, tìm phương tiện truyền lại cho chúng sanh. Quyết định giảng nói lý nhiệm mầu của vũ trụ nhân sanh, Đức Phật trụ nơi hải ấn tam muội, nói Kinh Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm (Buddhàvatamsaka- Mahàvaipulya Sùtra), để khai thị nhân hoa “ Như lai tu chứng vạn hạnh”, trang nghiêm quả đức “ Nhứt thừa”. Nhưng vì giáo pháp quá cao siêu,hàng thính chúng trình độ thấp kém, không thể hiểu nổi, nên Đức Phật mới quyền nói giáo lý thấp hơn. Do lời thỉnh cầu của các Phạm thiên-Vương (Bragmanam), Ngài giảng nói 4 bộ A-Hàm (Catvàri Àgamas):

1-Kinh Trường A-Hàm (Dìrghàgamas)

2-Kinh Trung A-Hàm (Madhymàgamas)

3-Kinh Tăng nhứt A-Hàm (Ekottarikàgamas)

4-Kinh Tạp A-Hàm (Samyahatàgamas)

Đức Phật đến thành Ba-la-Nại (Vàrànasi) vào vườn Lộc-Giã (Sarnath) bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu Đế (Catvàri àrayasatyàni), độ cho năm anh em ông Kiều-trần-Như trước kia đã cùng tu khổ hạnh với Ngài. Năm vị ấy là :A-Nhã Kiều-trần-Như (ajnàta-Kaundinya), Át-bệ (Asvajit), Thập lực Ca Diếp (Dasabala Kãsyapa), Ma-ha-Nam Câu-Lợi (Mahànàma-Kulika) và Bạt-Đề (Bhadrika).

Pháp Tứ đế cũng gọi là Tứ chân đế hay Tứ thánh đế , có nghĩa là chắc chắn hiện thật.Bốn pháp ấy là: Khổ, Tập, Diệt. Đạo.

Đức Thế Tôn (Lokajyestha) thương xót chúng sanh, muốn khai ngộ cho chúng sanh biết rõ nhân và quả khổ của pháp thế gian và nhân quả vui của pháp xuất thế gian.

Hai quả trước: Khổ-đế (Duhkhaàryasatya) và Tập đế (samudaya àryasatya) là quả và nhân của pháp thế gian.

Hai pháp sau: Diệt để (Nirodha àrayasatya) và Đạo-đế (Màrga àryasatya) là quả và nhân của pháp xuất thế gian.

Vì sao không nói Nhân trước mà lại nói Quả trước? Vì Đức Thế Tôn muốn cho chúng sanh nhận thấy quả khổ, rồi tìm nguyên nhân để đoạn trừ và cũng chỉ cho chúng sanh nhận thức được quả vui, rồi mới tìm nguyên nhân để tu tập.

Con người sanh ra ở cõi trần gian này, có thân thì phải khổ nào là sanh khổ (jàti duhkhah), già khổ (jarà duhkhah), bịnh khổ (Vyàdhi duhkhah), chết khổ (Mrtyu duhkhah), thù oán mà gần gũi là khổ (Apriyaith Samprayogo duhkhah) ân ái chia ly là khổ (Priyaith viprayogo duhkhah),muốn không được là khổ (Yam api iccham nà labhati tam api duhkhah), năm ấm hưng thạnh là khổ (Pancùpà-dànaskandha duhkhah). Tất cả những khổ báo ấy đều do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v ,mê lầm của chúng sanh, kết hợp lại thành, vì thế gọi nguyên nhân khổ là tập đế. Đã hiểu rõ nhân của khổ đế là tập Đức Thế Tôn mới chỉ dạy cho quả an vui là diệt đế, tức là cảnh tịch diệt Niết Bàn, an vui giải thoát đời đời. Chúng sanh muốn chứng được Niết bàn thì phải cố công tu nhân, tức là đạo đế . Trong kinh Phật dạy có 37 phẩm trợ đạo (Bodhi-pàksika-dharma), như là:

-Tứ niệm xứ (Smrtyupasthàna)

-Tứ chánh cần (Samyakaprahàna).

-Tứ như ý túc (Rddhipàda)

-Ngũ căn (Panca indriyàni).

-Ngũ lực (Panca balàni),

-Thất Bồ Đề phần (Sapta bodhyangàh)

-Bát Chánh đạo phần (Asta màrga).

Thực hành các đạo phẩm ấy, đến lúc nào thân tâm thanh tịnh hết phiền não tập nhân, diệt hết khổ quả, lúc bấy giờ chứng được quả thanh tịnh Niết-Bàn (Nibbhàna).

Đức Thế Tôn giảng nói pháp Tứ diệu Đế, năm anh em ông Kiều trần Như đều được khai ngộ, chứng quả A-la-Hán, trở tành năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài. Kế đó đức Phật thuyết liên tiếp trong ba tháng độ ông Gia-xa (Yasà) và các bạn của ông đều làm lễ thế phát xuất gia. Một hôm, Phật đi giữa đường, gặp hai thương gia là ông Đế lê phú Bà (Tapassu) và Bạt lê Ca (Bhallika) Hai vị này thành tâm dâng phẩm vật cúng dường, sau   khi nhận lãnh, đức Phật thuyết cho một bài kệ:

Người nào thích cúng thí

Quyết được nhiều lợi ích

Nếu người ưa bố thí

Sau ắt đặng an vui.

Đức Phật giảng cho hai thương gia, độ cho ông Gia-Xá và các bạn của ông, cũng như đã độ cho năm vị Tỳ kheo (Bhiku). Đây là lần đâu tiên ngôi Tam bảo (Triratna) xuất hiện trong nhân gian: Đức Phật là Phật bảo, Tứ Đế là Pháp bảo, các vị Tỳ kheo là Tăng bảo.

Sau ba năm đắc đạo, đức Phật đến ngoại thành Vương Xá, hóa độ cho ba vị Hỏa giáo Bà-la-Môn: Ưu-lầu -tần-loa Ca-Diếp (Uruvilavà Kàsyapa), Già Gia Ca-Diếp (Gayà Kasyapa) và Na-Đề Ca-Diếp (Nadi Kàsyapa) và một ngàn môn đệ của ba vị này cũng đều xin qui y theo Phật.

Kế đó đức Phật vào trong nội thành độ vua Tần-Bà-Ta-La (Bimbisàra), vua truyền lịnh kiến lập Trúc lâm tịnh xá, và thỉnh Phật đến ở để giảng đạo, thuyết pháp. đức Phật chỉ giáo cho hàng Thượng túc đệ tử kiến lập đạo tràng, hướng dẫn tăng chúng kiết hạ an cư và hoằng dương chánh pháp. Lúc ấy Phật Giáo xương minh, dân chúng bốn phương tấp nập kéo về, để nghe pháp và làm lễ qui y thọ giới. Trong số đó có Ngài Xá-lợi-Phất (Sàriputra), Ngài Mục-kiền-Liên (Maudgalyàyana) và các môn đệ của hai Ngài tương kế qui đầu. Đặc biệt vua Tần Bà Ta La là vị quốc vương đầu tiên qui y với Phật và đây cũng là lúc Tăng đoàn truyền giáo đầu tiên của đạo Phật xuất hiện ở trần gian.

Đức Phật thành đạo đến năm thứ năm, nhân vụ Tỳ kheo Tư đề Na (Sidinna) ở thành Từ xá Ly (Vaisali), trần tình chưa dứt, nghiệp chướng còn mang, nên đức Phật mới chế ra giới luật: Tỳ kheo phải giữ 250 giới (Pràtimoksa), Sa-di phải giữ 10giới (Siksàpada), cư sĩ phải giữ 5 giới (Panca veramàni). Trải qua mấy năm trường mới hoàn thành các giới luật này.

Đức Phật đến thành Xá Vệ (Sarvàsti), kinh đô nước Kiều tất La (Kausala), thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-Nặc (Prasenajita). Ở thành này, có vị đại thần Tu Đạt Đa (Sudatta), giàu lòng bố thí cho kẻ bần cùng côi cút,nên được người đời gọi là Cấp Cô Độc Trưởng Giả (Anàthapindika). Vì ngưỡng mộ đức Phật, nên ông đem vàng ra mua vườn của Thái tử Kỳ Đà (Jeta), kiến lập Kỳ Viên tịnh xá, thỉnh đức Phật và chúng tăng về giảng đạo thuyết pháp, rộng độ quần sinh ở nước này. Ông kiến tạo dần dần được 72 đại giảng đường, hơn ba ngàn phòng xá, năm trăm lâu đài nguy nga, rộng lớn. Đức Phật thường trụ ở đây giảng kinh Bát Nhã Ba La Mật (Prjnà Pàramità Sùtra) và dạy kinh Phương Đẳng (Vaipulya Sùtra).

Đức Phật thành  đạo đến năm thứ sáu, Ngài trở về thành Ca Tỳ La Vệ thăm phụ hoàng Tịnh Phạn Vương. Thấy thân phụ buồn rầu trên giường bịnh, Phật thuyết về lý Vô -thường (Anitya) , khổ (duhkha),không (Sùnya) và Vô ngã (Anàtman) cho vua nghe. Nghe pháp xong, đức vua liền hết phiền não, gương mặt trở nên vui tươi, Ngài cất tiếng niệm Phật, rồi băng hà một cách êm ái, hưởng thọ được 97 tuổi. Sau đó đức Phật cảm hóa tất cả giòng họ Thích và có một số xin xuất gia theo Phật, như Ngài Nan Đà (Nandà) A Nâu Lâu Đà (Aniruddha) v.v..

Đức Phật thành đạo đến năm thứ tám, nhớ lời khẩn cầu của Ngài A Nan nên đức Phật mới hứa khả cho bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Di mẫu của Phật xuất gia, tu phạm hạnh,cùng các phụ nữ trong giòng họ Thích cũng được phép thọ giới xuất gia. Đây là lần đầu tiên trong Phật giáo có hàng Tỳ kheo ni (Bhiksunì).

Đức Phật thành đạo đến năm thứ ba mươi tám, ông Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), bàn tính bảo thái tử A xá Thế (Ajàtasátru), nước Ma kiệt Đà (Magadha), tìm cách sát hại phụ vương là vua Tần Bà Ta La, còn phần ông thì tìm phương kế để giết hại đức Phật, nhưng âm mưu bị bại lộ không thành. Sau đó đức Phật dùng oai đức cảm hóa ông Đề Bà Đạt Đa và thái tử A Xà Thế đều qui đầu Phật pháp

Thái tử A Xà Thế lên ngôi, xưng là Minh chúa ở Trung Ấn, thâu phục được nhiều nơi như thành Thất la Phiệt (Sràvana) và Ca tỷ La (Kapila) v.v..Lúc ấy có nhiều nơi bị loạn lạc, nhưng nhờ sự cảm hóa của đức Phật, nên mọi nơi đếu được thái bình thạnh trị trở lại.

Đức Phật thành đạo đến năm thứ bốn mươi bốn, tại Linh Thứu Sơn (Grdhrakùtà), thuyết kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa (Mahà Saddharma pundarìka Sùtra), Ngài đem chân lý siêu việt giáo hóa nơi này trong vòng bốn năm năm. Giáo pháp của Phật triển chuyển đến hai bờ sông Hằng (Gangà), độ cho người được giải thoát nhiều vô số. Sau cùng, từ nước Ma kiệt Đa, Ngài đến thành Tỳ Xá Ly, tuần tự du hóa khắp nơi ở địa phương này, Đức Phật nhận lãnh thức ăn do ông Thuần Đà cúng dường và độ cho người đệ tử cuối cùng Tu Bạt Đà La (Subhadra) 80 tuổi.

Suốt bốn mươi lăm năm trường giáo hóa chúng sanh, đức Thế Tôn không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, từ hàng cao quí như vua Tần Bà Ta La, đến kẻ hạ tiện, làm nghề gánh phân như ông Ưu Ba Ly, tất cả đều được thọ lãnh giáo pháp của Ngài. Đức Phật hoan hỷ xâu kim cho một bà lão mù lòa, nhận lãnh đồ vật bằng đất do trẻ em dâng cúng…Sự bình đẳng độ sanh của Ngài, trong kinh Niết Bàn (Parinirvàna Sùtra) có ghi như sau: “Đức Thế Tôn không những thuyết pháp cho bậc quyền qúi như vua Bạt Đề Ca (Bhadrika), mà cũng giảng đạo cho hạng người nghèo như ông Ưu Ba Ly. Không những thọ lãnh đồ cúng dường của nhà triệu phú như Tu Đạt trưởng giả, mà còn nạp thọ đồ dâng cúng của kẻ cùng đinh như ông Thuần Đà, không riêng chỉ cho phép hành đạo các hạnh người không tham như Ngài Ca Diếp, mà còn khuyến khích xuất gia những người có tánh đam mê như ông Nan Đà. Không những thuyết pháp cho người an tịnh không dự việc đời, mà còn giảng đạo cho vua Tần Bà Ta La trong lúc đang bận việc nước. Không phân biệt giảng đạo cho hạng thanh niên ưu tú, mà còn nói diệu pháp cho ông già 80 tuổi. Không những thuyết pháp cho bà Mạt Lợi phu nhân (Mallikà) mà còn giảng giải đạo lý cho nàng dâm nữ Liên Hoa (Ambapàlì)…”

Đời sống của đức Phật là một tấm gương sáng cho mọi người soi chung.

Cơ duyên giáo hóa gần viên mãn, đức Phật giảng kinh Đại Niết Bàn (Mahàparinirvàna Sùtra) và dạy bảo các hàng đệ tử: Tỳ kheo (Bhiksu) Tỳ kheo ni (Bhiksuni), Ưu bà Tắc (upàsakà), Ưu bà Di (Upàsikà) và thiên long ,bát bộ (Devas, Nàgas)v.v..những lời dạy cuối cùng: “ Từ nay về sau, giáo pháp của ta, các đệ tử phải triển chuyển hành trì, khiến cho pháp thân thường trú của Như Lai không bị tiêu diệt”.

Tin đức Phật sắp nhập Niết Bàn được loan ra như một tiếng sét, các đệ tử từ các phương xa vội vã trở về , để cùng đấng Giác Ngộ chia ly lần cuối.Lúc bấy giờ đức Thế Tôn được 80 tuổi, Ngài nhập Niết Bàn tại thành Câu thi Na (Kusinagara), trong rừng SaLa Song Thọ (Sàla).

Sau chín mươi ngày, đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, 500 vị đại A La Hớn , thượng túc đệ tử của Phật, đã hội nghị lần đầu tiên tại động Pippala, ở gần thành Vương Xá (Rajagraha) để kết tập giáo pháp của đức Phật, nói ra trong suốt thời kỳ giáo hóa, để làm trọng tâm truyền thống chánh pháp. Trong hội nghị đầu tiên này, Ngài Đại Ca Diếp được suy tôn làm chủ tọa. Ngài A Nan đa văn quảng kiến, đọc lại tạng kinh (Sùtra Pitaka), tôn giả Ưu Ba Ly trì giới kiên cố, tụng lại tạng luật (Vinaya Pitaka). Hội nghị này kết thúc sau bảy tháng làm việc . Đây là lần kết tập (Samgiti) thứ nhứt .

Đức Thế Tôn nhập Niết bàn vào khoảng một trăm năm, 700 vị Tỳ kheo ở các phương câu hội về tại thành Tỷ xá Ly (Vaisàlì), chọn hoa viên Ba lợi Ca (Paricitra) làm hội trường, để cử hành đại hội nghị Phật gáo. Kỳ kết tập này chỉ đặt trọng tâm giải quyết về giới luật mà thôi. Đây là lần kết tập thứ hai.

Trước Tây lịch , khoảng 320 năm có vua A Dục (Asoka) nước Ma Kiệt Đà là vị vua triệt để tuân hành lời Phật dạy và hết lòng phụng sự Phật giáo.

Đức vua tổ chức thống nhất giáo hội Phật giáo thành một mối, xác định trọng tâm giáo nghĩa Phật Đà duy trì giáo lý cổ truyền. Lúc ấy, Ngài Mục Kiền Liên Tu Đế (Moggaliputta Tissa) được cử làm Tăng Thống chọn 1000 vị Tỳ kheo xuất sắc tới thành Hoa Thị (Pàtaliputra), thuộc tiểu bang Bihar,Patnangày nay. Kỳ hội nghị này dung hòa sự tranh chấp giữa Thượng tọa Bộ (Theravàdinas) và Đại chúng Bộ (Mahàsanghikas).Giáo hội ra chỉ thị cho Tăng đoàn truyền bá giáo lý ở khắp quốc nội và phái các vị danh tăng trải thân đi hoằng hóa ngoại quốc. Tăng thể truyền giáo ở ngoại quốc chia làm hai phái đoàn đi về phương Bắc bằng đường bộ, xuyên qua các nước như Nepal, Tây Tạng, Bhutam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, dùng kinh điển bằng chữ Sanskrit để hoằng hóa, sau được gọi là Bắc Tôn Phật giáo; đoàn thứ hai đi về phương nam, bằng đường thủy, qua các nước như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao,Cao Miên, dùng kinh điển Pàli để hoằng truyền, sau được gọi là Nam Tôn Phật Giáo.

Sau sáu trăm năm, đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, vua Canị Sắc Ca (Kaniska), một vị Đại đế Ấn Độ, qui y theo Phật giáo,mỗi khi rảnh rỗi, Ngài thường để tâm tìm học Phật pháp, nghiên cứu giáo lý thâm diệu của đấng Từ Bi. Hằng ngày đức vua cung thỉnh một vị danh tăng vào cung để giảng đạo cho vua nghe. Có nhiều dịp, nhận thấy chư tăng giảng giải bất đồng, bộ phái sai khác,nên Ngài chiếu chỉ các Đại Đức danh sư họp lại để kết tập kinh điển, chọn danh từ thống nhất. Cuộc kết tập này gồm có 500 vị Bồ tát (Bodhisattvà), 500 vị Tỳ kheo (Bhiksu) và 500 vị tại gia cư sĩ (Upàsakà,Upàsikà) họp tại thành Ca Thắp Di La (Kàsmira), dưới quyền chủ tọa của Ngài Hiếp Tôn Giả (Parsvika) và Ngài Thế Hữu (Vasu-mitra). Đây là lần kết tập kinh điển thứ tư.

Tóm lại, tất cả giáo pháp của đức Thế Tôn, khi Ngài còn tại thế, các vị A-La-Hớn đích thân nghe Phật giảng nói, lúc Phật nhập Niết Bàn chư vị Thánh tăng y lời Phật dạy thực hành giáo hóa. Những người y theo giáo pháp tu hành đắc độ nhiều vô số kể. Các vị lãnh sứ mạng hộ trì chánh pháp của đức Thế Tôn, chẳng những hồi xưa, mà hiện nay khắp thế giới đâu đâu cũng đều có. Như thế, chúng ta đủ biết tinh thần truyền thống giáo pháp của Phật đà rất vĩ đại từ xưa đến nay, mà sẽ trường cửu mãi mãi với thời gian và không gian.

   H.V



Bài khác nên xem

Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo – Kỳ 2

datthinh

Tưởng niệm HT.Thích Huệ Hưng

phuocthanh

Tiểu sử Hòa Thượng Đệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN

phuocthanh