Ý Nghĩa sự ” Thị Hiện Đản Sanh”

Ý nghĩa của sự “ Thị hiện đản sinh”

Kính thưa quý anh chị,

Cùng các em thân mến.

Thị hiện là hiển bày như thế; Đản là rõ ràng, minh bạch không bị che khuất bởi bất cứ thứ gì mà còn làm cho nó xán-lạn, tươi đẹp hơn – ghép với từ “Sinh” thành “Đản sinh”, dường như thuật ngữ này chỉ riêng Phật Giáo mới có. Khác  với các từ ngữ giáng phàm, xuống thế…

Đứng về mặt ngôn từ, quan điểm của Phật giáo Theraveda không dùng từ “Phật Đản sanh” mà dùng từ “Bồ-tát Đản sanh”, vì Phật giáo Theraveda cho rằng, nếu nói Phật Đản sanh thì có người sẽ hiểu Phật đã thành đạo từ nhiều kiếp trước, kiếp này chỉ là thị hiện lại; nếu đã thành Phật rồi lại Đản sanh thì tại sao đến năm 35 tuổi (Bắc tông cho là 30) Ngài còn phải chiến thắng ma vương và thành đạo dưới cội Bồ-đề?

Còn quan điểm của Phật giáo Đại thừa, sở dĩ có sự xuất hiện của một vị Phật không phải là biến cố ngẫu nhiên mà chính là kết quả được thành tựu từ bao nhiêu tâm nguyện nung nấu ở quá khứ. Trước khi hóa thân làm thái tử, Ngài sống đời sang trọng sung sướng với vợ đẹp con thơ, rồi thức tỉnh cắt đứt những ràng buộc ân ái để sống kiếp khổ hạnh không nhà của người xuất gia, và sau cùng chứng đạo. Phật Thích-ca trong tiền kiếp đã là vị Bồ-tát thực hành Bồ-tát đạo trải qua trăm ngàn muôn ức kiếp không hề mỏi mệt. Những việc Bồ tát đã làm chỉ vì một nguyên nhân sâu xa, một “đại sự nhân duyên” như trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện, đã mô tả.

Do nguyện lực thiết tha nên mọi sự kiện Ngài thị hiện đều kết hợp bởi những duyên lành giữa cõi trời, người, Thiên long bát bộ cùng nhưng vị Bồ tát từ các cõi giới khác hội tụ hộ pháp từ lúc sinh ra đến khi nhập niết bàn.

Theo Kinh Đại Bản, Bồ Tát trong thai mẹ 10 tháng mới sinh ra. Mẹ Bồ tát đứng mà sanh. Khi sanh ra, chư thiên đỡ Ngài trước, sau mới đến loài người. Thân Bồ Tát không đụng đến đất, có bốn thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ mà thưa : “Hoàng hậu hãy hoan hỷ, Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”. Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước ối hoặc máu mủ. Có hai dòng nước từ hư không hiện ra, một nóng một lạnh tắm rửa sạch sẽ cho Bồ Tát và bà mẹ. Ngài đứng vững trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương rồi thốt lời lớn như con Ngưu vương : “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh đời này nữa”.

Truyền thống kinh Bắc tạng cho rằng Thái tử sanh ra từ bên hông hữu của Hoàng hậu. Và Ngài cũng bước bảy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: “trên trời và dưới đất chỉ có Ta là hơn cả.” Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu … chiếu khắp mười nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động.

Ngài chào đời có điều khác thường là thân thể rực rỡ trong ánh binh minh. Điểm đặc biệt là khi Ngài Đản sanh, lúc đó thế giới sáng rực trong hào quang và thơm ngát mưa hoa của các vị thiên vương đến cung hạ Ngài, mây trời kết ngũ sắc cúng dường, hoa đàm bừng nở, gió nhạc êm đềm, chim hót líu lo, núi tu di dường như cúi đầu để tiếp đón bậc thầy của nhân thiên, ba ngàn thế giới vang động theo sáu cách:

Phương Đông vọt lên phương Tây lặn xuống,

phương Tây vọt lên phương Đông  lặn xuống,

phương Nam vọt lên phương Bắc lặn xuống,

phương Bắc vọt lên phương Nam lặn xuống,

bốn bên vọt lên chính giữa lặn xuống,

chính giữa vọt lên bốn bên lặn xuống.

Sau khi Đản sanh, Ngài mở mắt hướng về phía Đông, thấy vô số chư thiên cúng dường hoa cho Ngài. Ngài bèn quay mặt hướng Bắc, ung dung bước đi bảy bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, ứng khẩu tuyên ngôn:

Aggohamámi lokámim
Settho ettho anuttaro
Ayaca antimà jàti
Natthidàni punabbhavo.

Nghĩa:

Đây là kiếp chót của ta
Duyên sanh không, không còn nữa
Trên trời và dưới đất
Ta là bậc chí tôn.

Hán văn:

 

“Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Vô lượng sanh tử

Ư kim tận hỉ.”

 

Trong lịch sử nhân loại, lần đầu tiên sự kiện hy hữu đã xảy ra, một tin mừng thật sự đã đến với loài người, vì đúng như tên gọi của bậc giáng trần, thái tử Tất-đạt-đa (siddatha) có nghĩa là “vạn sự cát tường”, thái tử sẽ là người mang lại an lạc cho toàn thể chúng sanh đang quằn quại trong vòng luân hồi sanh tử.

Huyền thoại về chín rồng phun nước – bảy bước xưng tôn

Bảy bước đi của Ngài là một sự tiếp nối diễn biến của 6 vị đại Phật trong quá khứ: 1. Phật Tỳ Bà Thi. 2. Phật Thi Khí. 3. Phật Tỳ Xá Phù. 4. Phật Câu Lưu Tôn. 5.  Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. 6.  Phật Ca Diếp và tới ngài thứ 7 là Phật Thích Ca.

Lam Ty Ni 2zHồ nước tại Lumbini – Nơi Hoàng Hậu Ma Da tắm hay nơi Chín rồng phun nước?

Ngài hóa sanh từ cung trời Đâu Suất – Chết ở cung trời Đâu Suất và sanh xuống cõi địa cầu, chọn vườn Lâm Tỳ Ni để hiển bày thánh thể. Ngài là thầy của ba cõi Dục giới – Sắc giới – Vô Sắc giới, Thiên nhân chi đạo sư nên thiên chúng vây hiện, nhạc trời vang tấu, thiên nữ tán hoa, cả vườn thượng uyển muôn hoa nở rộ một lần, sự kiện này không có chi lạ, chỉ có điều khi hiện thân thì họ phải hiện thân giống người, còn không hiện thì chỉ có những người có thiên nhãn mới thấy – suốt cuộc đời đức Phật họ thường hiện thân hay không hiện để quần tụ nghe Pháp.

Mỗi bước đi của Ngài đều có hoa sen đỡ chân vững chãi, vô nhiễm và vô ngại giữa chốn bụi trần là do Nguyện lực vĩ đại của Ngài cùng 6 vị Phật quá khứ cộng lại để thị hiện “Đại oai lực” không những cho phàm dân rõ biết mà còn bố cáo cho thiên ma, ngoại đạo để họ phải kiêng dè.

Chúng ta được Phật dạy phải khiêm tốn, khiêm hạ để diệt lắng cái bản ngã không thật trong mỗi người, nhưng tại sao chính Ngài lại tuyên ngôn “Duy Ngã Độc Tôn?” – Duy Ngã độc tôn này chính là cái “Như thật tri kiến”, là Vô ngã, bao gồm toàn thể vũ trụ hư không đều đồng thể Phật tánh Như Lai – Ai đạt được hành trạng Vô ngã rốt ráo tức đạt được 4 tánh Thường – Lạc – Ngã – Tịnh bất biến của Niết bàn. Đây mới chính là “Duy Ngã độc tôn”.

Chính vì thể nhận rốt ráo sự tướng của vạn hữu và nhân sinh như thế nên Ngài tuyên bố rằng: tất cả mọi người bất kể sang hèn, bần tiện hay cao quý, đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật như nhau. Sự chứng ngộ Phật tánh của mỗi người là tùy vào nỗ lực riêng tư của từng cá nhân, chứ không phải ân huệ của một đấng thượng đế hay thần linh nào cả. Lần đầu tiên con người nghe thấy lời xác nhận hùng hồn đến thế, một năng lực tối thượng trong công trình tự giải phóng bản ngã chính mình, tuyệt đối chẳng còn bị chi phối bởi những biến cố tâm lý, vật lý hay hoàn cảnh xã hội nào.

Đản sinh dựa trên quan điểm lịch sử lại còn rõ ràng hơn nữa. Ngài có thân thế là dòng dõi Kiều Thi Ca (Gotama), là hệ gia phả kết hợp giữa dòng Sư tử giáp thành Ca Tỳ La vệ và vương quốc Câu Ly láng giềng – Tịnh Phạn vương cưới hai chị em bà Ma Da hoàng hậu và bà Ma Xà Ma Đề đều ở tại Câu Ly.

Lịch sử đã ghi nhận sự hiện hữu của đức Phật trên thế gian nầy cách nay hơn 26 thế kỷ: Đó là một nhân vật có thật trong lịch sử nhân loại. Mặc dù thời đó là Cổ đại, sơ khai, ngay đến quần áo cũng chỉ là vải thô chỉ quấn, hay đắp. Khi đến vườn Lâm Tỳ Ni nước Nepal chúng tôi có chiêm ngưỡng một bức tranh cổ phục chế, thậm chí Ma da hoàng hậu và đoàn cung nữ y áo không có nhiều!!!

Lam Ty Ni 3zY áo….thời đó không có nhiều

Không những thị hiện đản sinh thời quá khứ mà còn thị hiện cả ở thời tương lai làm cho lịch sử của Ngài càng lúc càng rõ ràng hơn. Hơn 200 năm sau khi nhập Niết Bàn có một vị hoàng đế đại gian ác quay đầu quy y  cửa Phật và ra sức xây dựng những công trình hộ pháp lớn lao, trong đó có những công trình bảo vệ lịch sử đức Phật.

Năm 1986 nhà khảo cổ người Anh Cuningham đã khai quật được một trụ đá trong số 4 trụ đá do vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắng liền với lịch sử của đức Phật, thường gọi là Tứ Động Tâm. Trên trụ đá có khắc năm dòng chữ:

– Năm Thiên Ái Thiện Kiến thứ 25 vua A Dục đích thân đến đây chiêm bái.

–  Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Đản sinh nơi đây.

– Vua sắc dựng thanh trụ để kỷ niệm nơi Ngài đản sinh.

– Thôn Lâm-tỳ-ni, nơi Phật đản sinh được miễn thuế.

–  Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sinh.

Y cứ vào trụ đá được khai quật, Tây phương xoá bỏ quan niệm cho rằng đức Phật là nhân vật huyền thoại và chấp nhận là một nhân vật lịch sử, vì theo Tây phương, trụ đá đó chính là bản khai sinh của đức Phật.

Lam Ty Ni 1zTrụ đá do vua Asoka dựng chỗ đức Phật đản sinh

Đức Phật ra đời đã mang đến cho nhân gian suối nguồn hạnh phúc của đạo Từ bi và chỉ đường cho chúng sanh đi từ bờ mê sang bến giác – Con đường của Pháp tánh Không tuệ.

Quả như lời nhà Tiên tri A Tư Đà đã tiên đoán sau khi được vua Tịnh Phạn mời vào cung xem tướng cho Thái tử. Ông khẳng định: Nếu Thái tử ở ngôi vua sẽ là một đại đế thống nhất thiên hạ  đem lại an lành cho trăm họ. Còn nếu xuất gia, Thái tử sẽ thành bậc đại giác cao cả, trí tuệ tuyệt vời, biết rõ vũ trụ nhân sinh một cách xác đáng. Đó là một đại đạo sư chỉ dẫn cho con người đường hướng xây dựng bản thân, gia định và xã hội hạnh phúc đẹp tươi, cao hơn là giác ngộ giải thoát. Giác ngộ sự thật của muôn vật, giải thoát mọi ưu phiền của vô minh, tham ái chấp trước, sinh tử luân hồi.

Ngày ấy có lẽ Tịnh Phạn vương và quần thần rất mơ hồ về những gì gọi là “Giác ngộ, giải thoát” nên họ hy vọng thái tử sẽ là một minh quân – Chuyển luân thánh vương.

Sự thị hiện đản sinh lại càng kỳ diệu hơn trong thời đương đại và hiện tại. Ngày này hơn 50 năm trước cờ Phật Giáo thế giới bị ma quân triệt hạ tại Việt Nam trong mùa Đản sinh, bao nhiêu xương máu của Phật giáo đồ đã đổ ra để bảo vệ lá cờ ấy, cuối cùng cũng được công nhận nhưng chỉ được treo trong khuôn viên tự viện nhỏ song song và nhỏ hơn cờ quốc gia.

Vào ngày 28 tháng 10 năm 1999, đại diện các nước của 34 nước trên thế giới đã đệ trình lên Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) dự thảo nghị quyết công nhận Đại Lễ Vesak kỷ niệm ngày đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn.

Vesak là âm Tích Lan – nguyên âm từ Vesakha, tiếng Phạn (Sanskrit) là Vaisakha, là tháng thứ hai theo lịch Ấn Độ – tháng tư theo âm lịch. Ngày này diễn ra  3 sự kiên trong 1 theo Phật giáo Nam tông ( Đản sinh – Thành Đạo – Nhập diệt) Riêng Phật Giáo Bắc Tông chỉ đồng chấp nhận sự kiện Đản sinh mà thôi)

Đến ngày 12 tháng 11 năm 1999, Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị Quyết A/54/235 công nhận ngày trăng tròn tháng 5 là Đại lễ Vesak kỷ niệm ngày đản sinh, thành đạo và nhập niết bàn của đức Phật.

Trong Nghị Quyết của Đại hội đồng LHQ viết rằng, “Lời dạy của đức Phật, và thông điệp về từ bi, hòa bình và thiện tâm của Ngài đã chuyển hóa hàng triệu người…Thừa nhận ngày trăng tròn  tháng  5 hàng năm là ngày thiêng liêng nhất của người Phật tử, kỷ niệm ngày sinh, thành đạo và nhập niết bàn của đức Phật.”

Từ đó, năm 1999 đến nay, mỗi năm, tại trụ sở chính của LHQ ở New York và nhiều nơi trên thế giới, LHQ đều tổ chức lễ kỷ niệm Đại lễ Vesak. Đặc biệt, các nước có truyền thống Phật giáo lâu đời tại châu Á, mỗi năm đều theo tinh thần của nghị quyết LHQ mà long trọng tổ chức Đại lễ Vesak, trong đó có Việt Nam vào năm 2008 và tới đây là năm 2014.

Từ lúc Việt Nam được tổ chức lễ Vesak thì cờ Phật Giáo mới vượt ra khỏi cánh cửa các tự viện mà lồng lộng bay khắp phố xá mọi nẻo đường.

Chỉ có một điều, hai lần đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc  2008 và 2014 đều tổ chức ở miền Bắc nên mình cũng không mường tượng các đại lễ đó nó ra sao! Chỉ biết suốt một đời Phật tử Lễ Đản sinh nào cũng trọng đại, và càng trọng đại hơn khi quan sát thấy bản ngã mình càng lúc càng hao mòn. Rồi một ngày nào đó ý nghĩa này cũng sẽ rõ ràng hơn. Chờ xem!

 

Đức Quảng

 

 

 

Bài khác nên xem

Lễ Khai mạc Trại HL Lộc Uyển 15 – BHD Bà Rịa Vũng Tàu

datthinh

Vài nét chấm phá về những bài thơ của HT Thích Trí Thủ

nhuanphap

Đời Ôn là hoa và chữ

phuocthanh