Tiểu Sử Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm (1258-1308)

Tiểu Sử Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm (1258-1308)

Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.

Lớn lên, năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và cùng năm Ngài kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh để dạy cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố v.v… tất cả đều hết lòng dạy dỗ. Chính Vua cha cũng đã soạn Di hậu lục để dạy dỗ cho Thái tử cách xử thế, chuẩn bị nối nghiệp sau nầy.

Về Phật pháp, Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết lòng hướng dẫn và trao đổi những yếu nghĩa Thiền tông. Ngài tâm đắc nhất là câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quan sát lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được) và tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Ngài thường tới lui chùa Tư Phúc trong kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.

Năm 21 tuổi (1279), Ngài được Trần Thánh Tông truyền ngôi, trị vì thiên hạ Đại Việt, lấy đức trị vì, dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo.

Trước thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên – Mông chuẩn bị xâm chiếm nước Nam. Năm 1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến.

Năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, Tổ quốc của toàn dân, Ngãi đã lãnh đạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên – Mông lần thứ nhất.

Với ý đồ bành trướng Phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp thôn tính Đại Việt, Trần Nhân Tông lại một lần nữa lãnh đạo cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, với sự quyết tâm chiến thắng của toàn quân, toàn dân, Ngài đã chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1288. Cảm hứng trước sự chiến thắng của dân tộc, Ngài đã làm hai câu thơ lưu lại:

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông muôn thuở vững âu vàng”

(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu)

Sau khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố triều đình, phủ dụ, đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến. Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi lầm đã có của quần thần cũng như thân tộc.

Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng.

Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.

Sau khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian. Năm 1299. Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núi Yên Tử – Quảng Ninnh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là “Hương Vân Đại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban pháp hiệu là Pháp Loa.

Năm 1301, Ngài hạ san, đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành và nghiên cứu về tôn giáo, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lân bang. Trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân.

Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúng Chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan v.v… Ngài đến Bố Chánh – Quảng Bình lập am Tri Kiến và lưu lại đây một thời gian. Sau đó, được Vua Trần Anh Tông thỉnh vào nội cung để truyền giới Bồ tát cho Bá quan văn võ, quần thần.

Sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa đính hôn Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1305, Vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang vàng, bạc… sính lễ cầu hôn. Đến năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân – Vua Chiêm Thành.

Trước thành quả ngoại giao hôn phối ấy, Vua Chiêm đã dâng hai quận Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).

Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các Lễ hội…

Sau khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinh sách và Ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….

Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả lời cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi” (Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt. Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu).

Theo sử cũ, Ngài xả báo an tường, thâu thần thị tịch ngày 01/11/Mậu Thân (1308). Thọ thế 51 năm tại am Ngọa Vân – Đông Triều – Quảng Ninh. Vua Trần Anh Tông cung thỉnh nhục thân Ngài về kinh đô Thăng Long cử hành Quốc tang trong thời gian hai tuần. Sau đó, Vua quan, quần thần, văn võ bá quan, đệ tử Pháp Loa, Bảo Sát và chúng Tăng trong nước cử hành Lễ Trà tỳ.

Sau khi thu nhặt Xá lợi, Xá lợi được chia làm hai phần, một phần xây tháp thờ ở Lăng Quý Đức phủ Long Hưng – Thái Bình; một phần xây tháp tôn thờ tại chùa Vân Yên – Yên Tử, Quảng Ninh, lấy hiệu là Huệ Quang Kim Tháp, dâng Thánh hiệu: Đại Thánh Trần Triều, Trúc Lâm Đầu Đà, Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.

Nam Mô Trúc Lâm Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Tổ Sư Tác Đại Chứng minh.

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

Dầu ai quyết chí tu hành,
Có lên Yên Tử mới đành lòng tu.

DẪN NHẬP

Sơ tổ Trần Nhân Tông

Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị – một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng không phân chia ranh giới Việt Nam, Ấn Độ, Trung Hoa hay Nhật Bản…. “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”.Song Phật giáo truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hoà nhập vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Chính vì vậy nên mới có 
Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Ấn Độ,Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Tích Lan, vv… Vậy đã gọi là Phật giáo Việt Nam thì nó phải có những nét gì đặc sắc của Việt Nam khiến người nhìn vào đánh giá được đó là Phật giáo Việt Nam? Điều này, điểm qua lịch sử, chúng ta thấy Thiền phái Trúc Lâm – Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam, nếu khai thác đúng mức, chắc rằng nó sẽ đóng góp rất nhiều lợi ích trên đường phát triển của dân tộc và sẽ ảnh hưởng sâu rộng ra ngoài nữa.
Nguyễn Lang, trong Việt Nam Phật giáo Sử luận đã viết: Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình.” (Tập I, tr. 482) 
Tức là nền Phật giáo Trúc Lâm tự có một nét độc lập của nó, và đó chính là điểm chúng ta cần khai thác và phát huy. Mà nói Phật giáo Trúc Lâm, cũng tức nói đến Thiền phái Trúc Lâm, vì lúc đó không có giáo hội nào khác nữa. Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không hiểu về Phật giáo Việt Nam, trong đó Thiền phái Trúc Lâm – Yên Tử, một của báu của dân tộc càng phải được hiểu rõ.

MẠCH NGUỒN THIỀN PHÁI TRÚC LÂM.

1. XÉT XA VỀ TRƯỚC: Như chúng ta đã biết, Thiền phái Trúc Lâm vốn dung hợp ba dòng thiền đã có từ trước:

* TỲ NI ĐA LƯU CHI – Thế kỷ 6:
Cuối thế kỷ thứ sáu, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Nam Thiên Trúc sang Trung Hoa, đắc pháp với tam tổ Tăng Xán và được Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo. Vâng lời dạy của Tam Tổ, Sư đến Việt Nam ở chùa Pháp Vân tháng ba năm Canh Tý (580), sau đó truyền pháp cho thiền sư Pháp Hiền, người Việt Nam mở đầu cho dòng thiền tông “Giáo ngoại biệt truyền” tại đất Việt, truyền thừa được 19 thế hệ.

* VÔ NGÔN THÔNG – Thế kỷ 9:
Do thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Hoa, đệ tử đắc pháp của tổ Bá Trượng truyền sang. Sách Truyền Đăng Lục gọi là Bất Ngữ Thông.
Năm 820, Sư từ Quảng Châu qua Việt Nam ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Đức, Bắc Ninh, gặp nhà sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ, Sư truyền pháp và đổi tên là Cảm Thành. Từ đó, Việt Nam có thêm dòng thiền Vô Ngôn Thông, cũng gọi là dòng Kiến Sơ, truyền thừa được 17 thế hệ.

* THẢO ĐƯỜNG – Thế kỷ 11:
Do thiền sư Thảo Đường, một vị tăng được phát hiện trong nhóm tù nhân bắt được của Chiêm Thành mà vua Lý Thánh Tông đã đem quân chinh phạt năm 1069. Sư cũng là người Trung Hoa, thuộc truyền thống của thiền sư Tuyết Đậu – Minh Giác, tông Vân Môn, truyền thừa được 6 thế hệ.

Trên đây là ba dòng thiền đã hội nhập vào một Thiền phái Trúc Lâm. Tuy nhiên nếu xét xa về trước nữa thì mạch nguồn thiền tông này phát xuất từ Phật Thích Ca truyền cho Tổ Ca Diếp và chảy dài xuống.

2. MẠCH NGUỒN TRỰC TIẾP:
Thiền phái Trúc Lâm tuy do Đại Đầu Đà Trúc Lâm làm Sơ tổ, nhưng mạch nguồn Yên Tử vốn bắt nguồn từ thiền sư Hiện Quang (thế hệ 15 dòng Vô Ngôn Thông). Chính Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên tử. Sư là đệ tử nối pháp của thiền sư Thường Chiếu
 (thế hệ 13 dòng Vô Ngôn Thông), trước ở núi Từ Sơn sau mới đến Yên Tử và chính là Tổ ban đầu của dòng truyền Yên Tử.
Kế tiếp thiền sư Hiện Quang là quốc sư Trúc Lâm mà vua Trần Thái Tông gọi là Đại Sa Môn Trúc Lâm trong chuyến vượt thành lên núi của Vua, đã thuật lại trong bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam. Đa số người đồng cho là thiền sư Đạo Viên hay Viên Chứng
 (thế hệ 16 dòng Vô Ngôn Thông).
Tiếp theo quốc sư Trúc Lâm là quốc sư Đại Đăng, người đã từng về kinh thành Thăng Long hành đạo và tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa.
Tiếp theo quốc sư Đại Đăng là thiền sư Tiêu Diêu
 (thế hệ 17 dòng Vô Ngôn Thông), thầy của Thượng sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là đại sư Phúc Đường ở tịnh xá Phúc Đường. Tiêu Diêu cũng là người đắc pháp với ngài Ứng Thuận dòng Vô Ngôn Thông (thế hệ 13).
Kế tiếp thiền sư Tiêu Diêu là thiền sư Huệ Tuệ, mà theo Nguyễn Lang, tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, đã cho là Sư vốn làm hoà thượng đàn đầu truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.
Sau 
thiền sư Huệ Tuệ, mới chính là Đại đầu đà Trúc Lâm Trần Nhân Tông.
Kế đó là:
– Tổ sư Pháp Loa
– 
Tổ sư Huyền Quang
– Quốc sư An Tâm
– 
Quốc sư Phù Vân (hiệu Tĩnh Lự)
– 
Quốc sư Vô Trước
– 
Quốc sư Quốc Nhất
– 
Tổ sư Viên Minh
– 
Tổ sư Đạo Huệ
– 
Tổ sư Viên Ngộ
– 
Quốc sư Tổng Trì
– 
Quốc sư Khuê Thám
– 
Quốc sư Sơn Đằng
– Đại Sư Hương Sơn
– 
Quốc sư Trí Dung
– Tổ sư Tuệ Quang
– Tổ sư Chân Trú
– Đại sư Vô Phiền
(Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục, Phúc Điền)

Vậy xét theo dòng truyền Yên Tử thì Đại đầu đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ sáu, nhưng đến Ngài, Ngài đã thống nhất các thiền phái đã có thành một thiền phái Trúc Lâm, lấy Ngài làm Sơ Tổ. Từ đây, Việt Nam thực sự đã có một dòng thiền Phật giáo của người Việt, do chính người Việt làm Tổ…

Song đó là nói theo truyền thống lịch sử, nếu nói thẳng trong lẽ thật sâu xa, chính bắt nguồn thiền phái Trúc Lâm – Yên Tử là từ sự tỏ ngộ của vua Trần Nhân Tông.
Chính khi vua hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung:
– Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?
Thượng sĩ đáp:
– Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận, chẳng từ nơi nào khác để được.
Ngay đó vua nhận được tông chỉ Thiền, mở sáng con mắt Đạo. Từ sức sống đó, vua đã sống vượt qua mọi biến chuyển của thế gian, để rồi chuyển mình thành thiền sư, truyền mạch sống cho một dòng thiền Việt Nam chảy mãi đến ngày nay. Nếu không có sứ sống chân thật kia thử hỏi dòng thhiền Trúc Lâm có được mạch sống thiền đúng như nghĩa của nó, hay chỉ là trên hình thức chữ nghĩa? Do đó, khai thác mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chúng ta không thể chỉ khai thác trên bề mặt lịch sử dễ thấy, hoặc trên hình thức phân ích theo chiều suy nghĩ của tình thường, mà còn phải khai thác phần sâu xa vượt ngoài chữ nghĩa ấy!
Chúng ta hãy lặng lòng lắng nghe lờ mở đầu cho buổi đại tham của sơ tổ Trúc Lâm tại chùa Sùng Nghiêm, tức mở đầu truyền mạch sống thiền cho đại chúng:
” Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong, bước lên toà. Vị thượng thủ bạch chùy, v.v…, rồi Ngài nói:
– Phật Thích Ca Văn vì một “việc lớn” mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt 49 năm chuyển động đôi môi (nói pháp) mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ông lên ngồi toà này, biết nói chuyện gì đây?”

Chúng ta thấy một điểm đặc biệt khác thường. Trước khi nói pháp, Ngài chặn đầu trước, dẫn Phật Thích Ca 49 năm nói pháp nhưng vốn chưa từng nói một lời nào, vậy thì hiện tại sẽ nói cái gì đây? Những điều Ngài sắp nói là có nói hay không?
Chính đây là một cách khéo léo nhằm nhắc nhở người nghe phải thấu qua chữ nghĩa, nghe đến tộ trước khi mở miệng kìa! Đó mớithực là sức sống thiền mà Ngài muốn truyền đạt. Còn chữ nghĩa nói ra là việc bất đắc dĩ, là ngọn ngành về sau, bởi vì người chưa thấu tột cội nguồn kia nên phương tiện phải nói. Song nói mà ý vốn không ở nơi lời. Tông chỉ thiền hay Yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền chính đã thổ lộ trong đó. Người lanh mắt hẳn bắt gặp ngay.
Mạch nguồn chân thật của thiền phái Trúc Lâm chính là đó.
Do đó, người muốn thâm nhập mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên tử, đòi hỏi phải là một HÀNH GIẢ, không thể là một HỌC GIẢ.

(Trích THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ – TT. THICH THÔNG PHƯƠNG)

Bài khác nên xem

Tại Sao Giới Luật Của Ni Nhiều Hơn Tăng

phuocthanh

Công đức chép kinh

phuocthanh

Lịch sử Đức Phật Thích Ca – Kỳ 1

datthinh