Gương Sáng Chư Tổ Việt Nam

GƯƠNG SÁNG CHƯ TỔ VIỆT NAM

Gương trong soi thấu gần xa

Sáng chiếu đại địa bao la cảnh trần

Chưtôn thiền đức ba phần

Tổ ấn lưu lại các tầng lớp sau

Việt-Tăng tu tiến mau mau

Namphương đèn tuệ rọi sâu tâm điền.

CẢM-THÀNH THIỀN SƯ (Đời Hậu Lý Nam Đế)

      Ngài đã gieo trồng căn lành nhiều đời, nhiều kiếp về trước, nên khi sanh ra gặp được thiện duyên phát tâm xuất gia (Pravrai) từ thời thơ ấu. Ngài tỏ ra thông minh xuất chúng và có tài năng phi thường. “ Túc duyên khánh hạnh” đã đem lại cho Ngài một kết quả hiện thật, là được làm đệ tử của Thiền sư Vô Ngôn Thông, vị sơ tổ của phái Thiền Tôn thứ hai ở ViệtNam. Sau khi Ngài học đạo, hành đạo và truyền bá đạo mầu, đến ngày sắp chứng đạo,Tổ Vô Ngôn Thông truyền tâm ấn và phù pháp hiệu cho Ngài là Cảm Thành.

      Cảm Thành Thiền sư sinh quán tại huyện Tiên Du (Bắc-Ninh), không rõ tánh danh của Ngài là gì, chỉ biết khi Ngài phát tâm xuất gia được phú pháp danh là Lập Đức. Trước kia, Ngài là tọa chủ một ngôi đại Già lam trên đỉnh núi Tiên Du. Thời gian sau, có gia đình phú hộ họ Nguyễn, cư trú tại làng Phù Đổng, vì kính phục đạo hạnh và tài ba của Ngài, phát tâm Bồ đề (Bodhicitta) đem hết gia tài sự nghiệp kiến tạo một ngôi  đại Già lam và cung thỉnh Ngài về trù trì. hiện nay, ngôi chùa này hãy còn tại làng Phù Đổng, mang danh hiệu là chùa Kiến Sơ, một thánh tích ở miền Bắc ViệtNam.

      Cảm Thành Thiền sư ở đó chẳng bao lâu, Tăng Ni và thiện tín qui tụ rất đông. Một hôm, Ngài Vô Ngôn Thông đi hoằng hóa ghé lại chùa ấy, nhìn thấy Cảm Thành Thiền sư có đầy đủ tác phong để truyền bá  đạo sau này.” Sư tư tương hợp”, nên Tổ Vô Ngôn Thông lưu lại một thời gian để luận đàm đạo lý. Cảm Thành hiểu biết Tổ là bậc chứng ngộ đạo quả, nên tận tâm thờ kính, tôn trọng Tổ làm Thầy, sớm thăm, tối viếng, không bao giờ xao lãng bổn phận. Có cảm tất có ứng. Tổ Vô Ngôn Thông mới phú pháp hiệu cho Ngài là Cảm Thành. Ngài rất hoan hỷ khi nhận được pháp hiệu và từ đó về sau công hạnh của Ngài càng ngày càng thăng tiến.

      Một hôm, Tổ Vô Ngôn Thông gọi Ngài đến rồi luận đạo rằng:

      -“Ngày trước Đức Thích Ca Thế Tôn (Sàkyamunibuddha) vì một đại sự nhân duyên nên mới ra đời, đại sự ấy là muốn khai thị chúng sanh ngộ nhập “ Phật tri kiến” (The four reasons for a Buddha’s appearing in the world: to open up the treasury of truth, to indicate its meaning, to cause men to apprehend it, and to lead them into it,the penetrative power of Buddha is wisdom, or vision). Khi sự hóa độ đã hoàn thành, chuẩn bị vào cảnh giới an vui vĩnh viễn (Mahàparinirvàna), Đức Phật đem “chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn” và pháp y bình bát (Pattacivaram) truyền trì cho Tôn giả Ma ha Ca Diếp (Mahàkàsyapa) là một Thượng túc đệ tử của Ngài. Như thế Ngài Ma ha Ca Diếp là đệ nhất Tổ của Thiền Tôn chánh thống. Sau đó, truyền đến tổ A Nan (Ànanda), Thương na hòa tu (Sànakavasa), Ưu ba Cúc đa (upagupta), Đề Đa Ca (Dhrtaka) v.v…đến đời thứ 28 là Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma). Y theo lời phú chúc của Tổ thứ 27 là Ngài Bát Nhã Đa La (Prajnàtara), Tổ Bồ Đề Đạt Ma vượt qua biển cả sang Trung quốc để “ truyền pháp cứu mê tình”. Ngài trải qua không biết bao nhiêu gian nan nguy hiểm, nhưng vì nhân duyên chưa đến, Ngài phải ngồi xoay mặt vào vách suốt 9 năm trường tại chùa Thiếu Lâm ở núi Hùng Nhĩ. đến khi thời đến,duyên gặp, Ngài mới truyền xâm pháp cho Tổ Tăng Xáng, rồi đến Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Tổ thứ sáu là Huệ Năng.

            “…Nhứt hoa khai ngũ diệp

            Kết quả tự nhiên thành”.

      Từ Tổ thứ nhứt là Bồ Đề Đạt Ma đến Tổ thứ sáu là Ngài Huệ Năng, lúc trao truyền chánh pháp nhãn tạng đều dùng pháp y, bình bát làm kỷ vật chứng minh. Trong thời gian đầu phải làm như thế, thiên hạ mới hiểu biết tin tưởng chánh đạo, nhưng về sau, giáo pháp của Phật đã ttruyền bá sâu rộng, nhận thấy pháp y bình bát là một dụng cụ rất dễ sanh ra nhiều mối tranh đoan, nên lục Tổ Huệ Năng không truyền thừa bằng tâm pháp mà thôi. Bằng chứng cụ thể là sự tranh đoan giữa lục Tổ Huệ Năng và Ngài Thần Tú. Về sau có những câu thơ diễn tả các sự kiện trên:

      “Như như bất động thị Di Đà

      Giáo lý chân truyền tự Thích-Ca.

      Ca-Diếp Tây thiên vi nhứt tổ,

      Đạt-Ma Đông độ thủ Tăng-già,

      Huệ-Năng ngộ đạo tồn y bát,

      Thần-Tú thất truyền triệt bát sa…”.

      Từ khi lục Tổ Huệ Năng truyền tâm pháp về sau, có rất nhiều vị chứng thành đạo quả: Ngài Nam Nhạc truyền tâm pháp cho Mã Tổ thiền sư, Ngài y cứ giáo pháp tu hành về sau đắc đạo, rồi truyền lại cho Bách Trượng Hoài Hải thiền sư, tín đồ qui hướng về các Ngài đông vô số. Lúc bấy giờ tại phương Bắc, Phật giáo rất thạnh hành, nhờ sự truyền bá hợp thời, hợp cơ và hợp cảnh, đa số thấu hiểu giáo lý Đại thừa (Mahàyàna). Vì thế ta phải chịu nhọc vân du sang phươngNam, để quan sát tìm những pháp khí, những người căn tánh thông lợi mà truyền giao chánh pháp. Nay được gặp nhà ngươi tại đây, thật là nhân duyên tiền định, mà cũng là túc chưởng thiện căn. Vậy con hãy định tâm nghe kỹ bài kệ sau đây:

      Chư phương hạo hạo

      Vọng tự huyên truyền

      Vị ngô thỉ tổ

      Thân tự Tây thiên

      Truyền pháp nhãn tạng

      Mục vị chi thiền.

      Nhất hoa ngũ diệp

      Chủng tử miên miên

      Tiềm phù mật ngữ

      Thiên vạn hữu duyên

      Hàm vị tâm tôn

      Thanh tịnh bản nhiên

      Tây thiên thử độ

      Thử độ Tây thiên

      Cổ kim nhật nguyệt

      Cổ kim sơn xuyên

      Xúc đổ thành trệ

      Phật tổ thành oan

      Sai chi bách thiên

      Thất chi bách thiên

      Nhữ thiện quán sát

      Mạc khiễm nhi tôn

      Trực nhiêu vấn ngã,

      Ngã bổn vô ngôn”.

      Dịch:

“ Các nơi đồn đãi thổi phồng

Tuyên truyền nhiều cách cho lòng lánh xa.

Nói rằng Phật tổ Thích-Ca

Tây thiên sinh trưởng, nước ta cách vời.

Truyền pháp nhãn tạng nơi nơi.

Gọi là đạo chánh, muôn đời tịnh tâm.

Một hoa năm cánh xa xăm,

Liên miên hạt giống nhiều năm gieo trồng

Nhiệm mầu lời dạy chí công,

Nghìn muôn duyên phước, đồng lòng tiến tu.

Ấy là Tâm ấn công phu

Thản nhiên yên lặng vân du hoàn cầu.

Tây phương là đó nhiệm mầu,

Đó là phương hướng dứt sầu trần ai.

Mặt nhật mặt nguyệt cả hai,

Núi sông cây cỏ xưa nay tuần hoàn.

Chạm đường ngưng trệ khó đoan,

Không khéo Phật tổ thành oan lối truyền.

Sai đi một mảy đảo điên,

Trăm nghìn lầm lỗi não phiền đường tu.

Đừng đề ta thán đền bù về sau.

Ta không thích nói đâu đâu,

Xin đừng gạn hỏi, lâu mau làm gì

      Nghe qua bài lệ của Tổ Vô Ngôn quá sâu sắc tế nhị, hàm xúc nghĩa lý nhiệm mầu của đạo giải thoát, Cảm Thành thiền sư nhận chân ngay lý thú vô thượng của Thiền Tôn (Dhyànayàna).

      Một hôm có một vị sư đến gặp Ngài để vấn đạo:

      -Thế nào gọi là Phật?

      -Thế nào cũng là Phật cả. Chỗ nào cũng đều có Phật.

      -Tâm của Phật ở chỗ nào?

      -Tâm Phật “ khắp tất cả chỗ” (Vairocana), không hề che giấu chỗ nào, không hề phơi bày chỗ nào.

      Xét các câu trên, chúng ta thấy đường lới truyền trao tâm pháp của Thiền Tôn chỉ đơn giản như thế, nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa cao siêu. Đúng ra Thiền Tôn thì “ bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Còn hỏi còn trả lời, là còn nằm trong vòng phương tiện.

      Năm Canh Thìn, niên hiệu Hàm Thông năm thứ nhứt (860 sau Tây lịch), một hôm Cảm Thánh thiền sư không bịnh tật gì, Ngài cho gọi tất cả môn nhơn đệ tử lại, phú chúc mọi việc, nhất là việc truyền pháp lợi sanh. Ngài truyền tâm pháp cho Thiện Hội thiền sư, một cao đệ đạo hạnh gương mẫu của Ngài.

      Trong thời gian Cảm Thành thiền sư truyền bá đạo giải thoát, chính là lúc pháp nạn bên Trung Quốc, chùa tháp bị phá hủy, Tăng Ni bắt hoàn tục, Phật pháp không được truyền bá, thuyết pháp bị cấm chỉ tối đa. Đây là “Đệ tam võ ách”, tức là Võ Tôn nhà Đường. Mặc dù nước Việt Nam của chúng ta cách xa Trung Hoa, nhưng vì lúc bấy giờ nước ta bị lệ thuộc nước Tàu, nên Phật giáo Việt Nam thời ấy cũng bị ảnh hưởng sâu xa, bị ngưng trệ việc truyền bá, nhiều nơi trong nước phải đình chỉ việc phát huy nền đạo lý cổ truyền. Tuy thế những người Phật tử nướcNamvẫn âm thầm hành đạo, vì Phật giáo đã ăn sâu vào tâm não của dân chúng từ ngàn xưa. Hơn nữa trong thời kỳ ấy có nhiều vị Đại đức, Cao Tăng Ấn Độ và Trung Quốc trốn sang nước Việt để tiếp tục hành đạo và truyền bá Đạo Vàng.

KHUÔNG VIỆT THÁI SƯ (Đời Đinh và Tiền Lê)

      Ngài là một vị sư trọn đời hy sinh cho Phật pháp và phục vụ chúng sanh nhất là dân tộc ViệtNamhết sức đắc lực. Ngài họ Ngô, không rõ tên thật là gì, sau khi thế phát bẩm sư được pháp hiệu là Chân Lưu, quê quán ở làng Cát Lỵ, làm viện chủ chùa Phật Đà. Lúc thơ ấu, Thái sư học thông Nho giáo, tinh thông cả sử học, lớn lên đăng đàn thọ cụ túc giới với Ngài Vân Phong ở chùa Khai Quốc, một ngôi chùa lịch sử của nước ta. Từ đó về sau, Ngài chuyên tâm học đạo, đọc qua ba tạng Kinh điển (Tripitaka) của Phật giáo, thông suốt những điểm cốt yếu của Thiền Tôn, tự tu và hóa tha đều đầy đủ, công hạnh lợi sanh của Ngài dần dần lan rộng khắp nơi, từ thượng lưu trí thức cho đến lao động bình dân, ai ai cũng đều mến phục đức độ, tài năng của Ngài. Đến năm Ngài 40 tuổi đời, vua Đinh tiên Hoàng thỉnh Ngài vào triều hỏi đạo, những câu về nội điển lẫn ngoại điển, vừa nêu ra Ngài ứng đáp rất thông suốt , không còn chỗ nào nghi ngờ, đức vua rất kính mến đạo hạnh và thán phục sức thông minh của Ngài. Sau đó vua Đinh tiên Hoàng sắc chỉ phong Ngài làm Tăng Thống để thống lãnh Phật giáo đồ toàn quốc, nắm giềng mối đạo hạnh cho quốc dân, Đến năm thứ hai, niên hiệu Thái Bình (971 sau Tây lịch), Hoàng để lại sắc phong cho Ngài là Khuông Việt Thái sư (Khuông có nghĩa là giúp đỡ, sửa sang nước Việt, Thái sư là chức quan đứng đầu trong hàng ba chức lớn nhất của triều đình xưa).

      Khuông Việt Thái sư tu tập truyền bá, đối nội cũng như đối ngoại rất mực thành công. Đến triều đại vua Lê Đại Hành, việc hành đạo và giúp đời của Ngài lại càng đắc lực hơn, nên được vua quan và dân chúng sùng kính tối đa. Tất cả các việc liên quan đến mọi vấn đề từ triều chính đến chánh trị, kinh tế, tôn giáo…Đức vua đều hỏi qua ý kiến của Ngài. Nhờ Ngài giúp vua trong việc an bang tế thế, nên trong nước dân được an cư lạc nghiệp và Phật giáo được trùng hưng.

      Ngoài ra Ngài còn giúp đức vua rất đặc lực trong ngành ngoại giao. Trong niên hiệu Thiên Phúc thứ bảy của nhà Tiền Lê (986 sau Tây lịch) nhà Tống Trung Hoa sai sứ thần tên là Lý Giác sang thăm viếng nước ta. Vua Lê Đại Hành sắc chỉ nhờ Khuông Việt Thái sư ra tiếp đón.Ngài đã hoàn thành sứ mạng của đức vua giao phó một cách tốt đẹp, làm sứ thần Lý Giác rất hài lòng, trước khi về có lưu lại một bài thơ:

Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du

Nhứt thân lưỡng độ sứ giao châu

Đông đô tái biệt tâm lưu luyến,

Nam-Việt thiên trùng vọng vị hưu

Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,

Xa trừ thanh chướng phiếm trường lưu.

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.

      Dịch:

May gặp minh quân giúp việc làm,

Một mình hai lượt sứ miềnNam.

Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ,

Muôn dặm non sông mắt chửa nhàm.

Ngựa đạp mây bay qua suối đá,

Xe vòng núi chạy tới dòng lam,

Ngoài trời lại có trời soi rạng,

Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

                  ( T.T. Mật-Thể)

      Vua lê Đại Hành xem qua bài thơ của Lý Giác rất lấy làm hoan hỷ, nhưng muốn rõ ràng hơn, nên trao lại cho Thái sư hỏi xem có gì đặc biệt không? Sau khi xem xét từng câu, từng chữ, Ngài tâu với Đức Vua là câu thứ bảy, sứ thần Trung Hoa có ý tôn kính Hoàng thượng như Hoàng đế của nước  họ vậy. Được sự xưng tán của sứ giả nước Tàu, đức vua liền nhờ Thái sư làm một bài thơ để tiễn đưa sứ thần về nước. Thái sư làm một bài thơ theo thể “ Tống vương lang quy” như sau:

Tường quan phong hảo cấm phàm trương,

Thần tiên phục đế hương

Thiên lý vạn lý thiệp thương lương (chữ lãng),

Cửu thiên qui độ trường.

Nhân tình thảm thiết đối ly trường.

Phan luyến sứ tinh lang.

Nguyện tương thâm ý vị nam cương,

Phân minh tấu ngã hoàng.

      Dịch:

Gió hòa phất phới chiếc buồm hoa,

Thần tiên trở lại nhà.

Đường muôn nghìn dặm trải phong ba,

Cửa trời nhắm đường xa.

Một chén quan hà dạ thiết tha,

Thương nhớ biết bao là.

Nỗi niềm xin chớ cõi Nam Hà,

Bày tỏ với vua ta.

                  ( T.T.Mật Thể)

      Lúc còn khỏe mạnh, Ngài ở tại triều để giúp vua xây dựng một quốc gia hùng mạnh, trong triều văn võ quan liêu cao tăng lộc vị, bên ngoài thiên hạ thái bình, dân chúng an cư lạc nghiệp. Đến khi  tuổi già sức yếu, Ngài xin đức Vua trở về rừng núi, vui chốn thiên nhiên, xây dựng một ngôi tự viện tại núi  Du Hý là nơi thanh tịnh bốn bề. tại đây, Ngài khai đàn thuyết pháp, giảng giải lý mầu của Đức Thế Tôn, thất chúng bốn phương lũ lượt kéo đến xin thọ học với Ngài rất đông. Ngày ngày giảng đạo, tối tối tham thiền, Ngài giáo hóa Tăng chúng hàng nghìn. Trong số đại đệ tử của Ngài có Đa Bảo Thiền sư là người thân tín nhứt, về sau Đa Bảo được truyền tâm pháp, nối nghiệp tông môn, khiến gia nghiệp của Khuông Việt ngày càng thịnh đạt.

      Tuổi già  sức yếu, công nghiệp giúp đời hóa đạo sắp viên mãn, một hôm nhằm ngày rằm tháng hai, niên hiệu Thuận Thiên thứ hai triều Lý, mọi việc phú chúc xong, đệ tử các nơi vân tập về để nghe những lời chỉ giáo cuối cùng. Khuông Việt thiền sư gọi Ngài Đa Bảo đến đọc bài lệ cuối cùng:

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hỏa phục hoàn sanh.

Nhược vị mộc vô hỏa,

Toản toại hà do manh?

      Dịch:

Trong cây có sẵn lửa hồng,

Tia lửa sáng chói nhờ công người vò

Nếu cây không lửa không tro

Làm sao cọ xát lửa do ấy thành?

      Nghe qua bài kệ trên, Đa Bảo thiền sư nhận chân được thâm ý truyền pháp của Khuông Việt thiền sư, nên liền đê đầu đảnh lễ sư phụ tam bái. Khuông Việt Thiền sư ngồi đoan chánh, chấp tay nhắm mắt, an nhiên thoát hóa, Ngài hưởng thọ được 81 tuổi. Ngài là vị Tổ thứ tư theo truyền thống Thiền Tôn của phái Vô Ngôn thông. Dân chúng ViệtNamkhông ai không biết công hạnh cao cả “ Khuông phò tổ quốc, tế thế an bang” của Ngài. Công nghiệp lợi tha của Ngài là tấm gương sáng cho mọi người soi chung, chúng ta nguyện noi theo bước đi vừa hùng lực, vừa từ bi hỉ xả của Ngài.

VẠN HẠNH THIỀN-SƯ (Triều Lý)

      Nhờ “ Túc duyên khánh hạnh”, nhờ “đại nguyện lợi sanh”, nhờ “ cư trấn bất nhiễm”, các vị Tổ sư xuất hiện trong thế gian, tùy theo trình  độ giáo hóa chúng sanh, đem đạo vào đời, giúp đời thấm nhuần Đạo pháp. Một trong các vị tổ sư đặc sắc nhứt phải kể Vạn Hạnh Thiền sư, một  vị Tổ đã làm cho Phật giáo và dân tộc Việt Nam sáng chói một thời, đồng bào chúng ta không ai có thể quên công ơn trời biển của Vạn Hạnh thiền sư được.

      Ngài sinh quán tại làng Cổ Pháp, hiện nay thuộc xã Đình Bảng, quận Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh. Thiền sư họ Nguyễn, không biết tên thật là gì, không thấy ghi trong sử sách. Nhờ truyền thống tổ tiên tu nhơn tích đức, nên ông bà, cha mẹ đều qui đầu Phật pháp, từ đời này đến đời khác, gia đường thờ Phật rất trang nghiêm, thanh tịnh. Riêng Ngài, từ lúc còn thơ ấu đã tỏ ra thông minh xuất chúng, tài năng khác thường, lớn lên Ngài học thông tam giáo (Nho, Thích, Đạo) và  suy tầm học hỏi ba tạng (Sùtra,Vinaya, Abhidharma Pitaka), giáo điển nhà Phật. Ngài học một hiểu mười “ nhất văn thiên ngộ”. Năm 20 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia (Pravarai) hành đạo với Định Tuệ thiền sư, một lòng thiết tha tu trì, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, oai nghi tế hạnh rất kỹ lưỡng. Sau đó, Ngài tòng học với pháp sư Thiền-Ông Đạo giả vị này tinh thông vạn pháp, chứng ngộ thiên cơ, người thứ hai được phái Tỳ Ni Đa lưu Chi (Vinitàruci) truyền tâm pháp. Đến khi Thiền Ông Đạo giả viên tịch (Nirvàna) rồi, Vạn Hạnh thiền sư chuyên luyện tập về các loại thiền, nhất là “ Tổng trì tam ma địa”.1

      Lúc chứng ngộ được phần nào, Ngài lưu lộ tướng hảo quang minh. Những câu nói lạ thường của Ngài thường được dân chúng trong vùng cho là những lời tiên tri, họ thích ghi nhớ để chiêm nghiệm trong tương lai. Ngoài ra Ngài rất thông thạo về binh thơ đồ trận, nên lúc sanh tiền vua Lê Đại Hành thường thỉnh Ngài vào triều để hỏi về quân sự và chính trị để lo việc giữ gìn bờ cõi. Thỉnh thoảng có nội loạn, vua nhờ Ngài giảng hòa, đôi khi cũng phải cần đến quân sự để đối trị. Hết nội loạn đến ngoại xâm, Ngài đều ra tay giúp nước. Trong niên hiệu Thiên Phúc nguyên niên (980 sau Tây lịch), vua Trung Quốc sai tướng Hầu Nhân Bảo, kéo hàng mấy mươi vạn quân sang xâm chiếm nước ta. Trong lúc quân tàu đang đóng quân tại núi Cương Giáp Lãng, vua Lê Đại Hành viết chiếu chỉ mời Vạn Hạnh thiền sư vào vấn kế. Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ về binh thơ đồ trận, Ngài chỉ phương hướng hành quân và tâu với Đức Vua nếu làm đúng theo chiến thuật của Ngài thì từ ba đến bảy ngày, đoàn quân viễn chinh xâm lược sẽ rút lui. Lời tiên đoán của Ngài quả thật không sai. Quân Nam chuẩn bị mọi việc như lời Ngài phán quyết, sau năm ngày, quân Trung Quốc do tướng Bảo chỉ huy phải chịu rút lui.

      Ngoài ra, Ngài rất tinh thông về sấm ngữ và toán số, những lời Ngài thốt ra đều đúng sự thật Vua Lê Đại Hành hết sức thán phục và tỏ lòng kính trọng tối đa, lúc nào cũng sẵn sàng ủng hộ Ngài trong việc hoằng dương Đạo pháp, báo Phật thâm ân.

      Đến lúc tuổi giá suy yếu, công lao hoằng đạo giúp đời của Ngài sắp viên mãn.Năm Thuận Thiên thứ chín (1018 sau Tây lịch), Ngài cho đòi tất cả thất chúng2 đệ tử đến để Ngài phú chúc mọi việc, nhất là  việc tu học,thực hành và truyền bá chánh pháp. Dặn dò mọi việc xong xuôi, Ngài an nhiên thị tịch.

      Hoàng đế Lý Thái Tổ và thất chúng đệ tử của Ngài làm lễ hỏa táng và thâu thập xá lợi để xây tháp phụng thờ. Trước khi vào cảnh tịch tịnh Ngài có làm bài kệ sau đây:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

Nhậm vận thạnh suy vô bổ úy,

Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.

      Dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không,

Thu héo xuân tươi vạn cõi lòng.

Sá chi suy thịnh đời là thế,

Thịnh suy như móc phơi bên đồng.

      Các văn nhân, thi sĩ, đại thần tể tướng đều đến dự đám tang của Ngài. Họ có làm nhiều bài phú ý nghĩa rất sâu xa, trong số ấy có bài thơ truy điệu của hoàng đế Lý Nhân Tôn (1072-1127):

Vạn Hạnh dung tam tế

Chơn phù cổ sấm cơ (ky)

Hương quan danh cổ pháp

Trụ tích trấn vương ky.

      Dịch:

Thuyền sư học rộng bao la

Giữ mình hợp phép sấm ra ngoài lời

Quê hương Cổ pháp sanh ngời

Tháo bia đứng vững muôn đời Đế đô

                        (M.T)

      Vạn Hạnh thiền sư đã hy sinh trọn đời để lo cho Đạo pháp và phục vụ dân tộc một cách hữu hiệu.Vì thế trên toàn quốc không ai mà không tôn kính, bái phục tài đức của Ngài.

TUỆ -TRUNG THƯỢNG-SĨ (Đời Trần)

      Ngài là một vị anh hùng dân tộc giúp đời cứu nước, sau đó xuất gia, học đạo tu hành theo Chánh Pháp. Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Quốc Toản, con trai của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, sau được sắc phong đến chức Hưng Nhượng Vương, đời nhà trần. Ngài là một vị võ quan vô địch, đánh trận nào thắng trận nấy. Theo ngọn cờ lẫm liệt của Hưng Đạo Đại Vương, Ngài đã hai phen đánh bại quân Nguyên đem binh xâm lấn, thâu được nhiều chiến công hiển hách. Đại Vương sắc phong cho Ngài chức Tiết Độ Sứ tại trại Thái Bình. Giữ chức vụ này, Ngài đem hết khả năng an bang tế thế, làm cho mọi người đều kính phục Ngài. Trần Quốc Toản chí khí hiên ngang, tài trí cao cường, tinh thần bất khuất. Nhờ căn lành nhiều đời, Ngài mộ đạo và thích học hỏi Phật pháp từ thuở bé. Duyên lành đưa đến, một hôm đến thăm Tiêu Giáo thiền sư, đệ tử của Ứng Vương vị Thiền sư cuối cùng của phái Vô Ngôn Thông.

      Tuệ Trung Thượng sĩ nghe thuyết pháp rồi ngộ đạo, Ngài nhận rõ nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô thường. Ngài liền xa lánh cảnh trần, dứt trừ ngũ dục lạc3, chuyên tâm nghe pháp tu học chánh đạo. Ngài xin từ chức rồi trở về quê quán, cư trú tại Phong ấp là chốn Vạn niên Hương. Thường trú tại đây, Ngài kiến đàn giảng giải kinh pháp, thập phương, tăng chúng đến thọ giáo và nghe Ngài giảng đạo rất đông. Mặc dù quyền cao chức trọng, nhưng Ngài rất bình dân, đối đãi với mọi người đều bình đẳng, không phân biệt giai cấp. Vì thế mỗi khi Ngài đăng đàn thuyết pháp, thiện nam tín nữ đến dự thính đông vô số, vì cảm phục lòng quảng đại của Ngài.

      Một hôm, hàng đệ tử hỏi Ngài về vấn đề sanh tử đại sự, tấn tốc vô thường Ngài hoan hỷ giải đáp bằng hai câu:

Trường không túng sử dong phi cốc,

Cự hải hà phòng nhứt điểm âu.

      Dịch:

Ngại gì bọt nước sôi ngoài bể,

Phỏng có vành xe liệng giữa trời.

      Nhận thấy Ngài đạo cao đức trọng, văn võ kiêm toàn, nên vua Thánh Tôn hết sức cảm mến và kính trọng Ngài. Đức Vua đặt hết tin tưởng vào sự hướng dẫn đất nước của Ngài trong tương lai. Hoàng đế ban cho Ngài mỹ hiệu đặc biệt là “ Tuệ trung Thượng Sĩ”, để Ngài có đủ thẩm quyền lo việc quốc gia và gởi gấm vua Trần Nhân Tôn để Ngài chỉ dạy mọi phương thức xử thế và lãnh đạo quốc gia dân tộc. Ngài tận tâm, tận lực chỉ dạy Nhân Tôn về mọi phương diện nhất là về phần đạo lý, Ngài giảng giải cho vua Nhân Tôn rõ về ý nghĩa Tam qui, ngũ giới4, về định luật Nhân quả, luân hồi5, cũng như về toàn bộ Ngũ thừa Phật giáo6. Vua Nhân Tôn rất hoan hỷ khi hiểu rõ được giáo lý căn bản của Đức Phật. Nhiều khi trong nước có giặc giả làm rối loạn, Ngài đem tài thao lược giúp vua một cách đắc lực. Nhờ đó can qua chấm dứt, dân chúng được hưởng thái bình an lạc và Phật giáo cũng được trùng hưng một cách tốt đẹp.

      Tuệ Trung Thượng Sĩ có nhiều điểm đặc biệt khác thường, Ngài thực hành giáo lý đại thừa một cách siêu đẳng, làm cho người đời không khỏi lấy làm lạ. Một hôm, em gái Ngài là Khâm Từ Hoàng Hậu mở tiệc để khoản đãi Ngài và bách quan văn võ. Bữa tiệc gồm đủ các thức ăn chay và mặn…Ngài ăn uống tự nhiên không kiêng cử gì cả. Hoàng hậu và mọi người có mặt đều kinh ngạc hỏi Ngài:

      -Ngài là người tu hành phải trường trai giữ giới, tại sao lại dùng thức ăn huyết nhục, như thế làm sao thành Phật được?

      Tuệ Trung Thượng Sĩ cười nói:

      -Phật là Phật, còn tôi là tôi. Tôi chẳng muốn thành ra Phật, chắc chắn Phật cũng chẳng muốn thành ra tôi.Quí vị há không nghe các vị tổ sư nói: “ Văn Thù là Văn Thù, mà giải thoát là giải thoát đó sao?”

      Đại thừa Phật giáo qua sự tu chứng của Ngài thật là giải thoát, phóng khoáng, không còn cố chấp hẹp hòi, dứt hết phiền trược, diệt trừ nhân, ngã, bỉ thử, không hệ lụy hình thức, xả bỏ tất cả. Nhưng điểm này, người tu phải lưu ý tối đa, chớ nên lầm lẫn sự vô chấp của các Ngài đã siêu thoát (làm mà không thấy mình làm, tu mà không thấy mình tu, chứng mà chẳng thấy mình chứng, tự tại vô ngại), với sự buông lung, phá giới. Người tu hành khi chưa chứng ngộ thật sự phải hết sức cẩn thận giữ gìn giới đức thanh tịnh làm căn bản.

      Suốt cuộc đời hành đạo, Ngài thường làm nhiều việc lạ thường làm cho Đại chúng đều kinh hãi. Cho đến phút sắp viên tịch, Ngài vẫn tự nhiên dạy đời. Ngài bảo mang một chiếc ghế để giữa căn nhà trống, Ngài mặc y phục thường ngồi tựa ghế, giảng nói những lời không không, làm không ai hiểu được Ngài muốn nói gì, rồi Ngài bỗng nhắm mắt thị tịch. Mọi người xúc động khóc than thê thảm,Ngài liền mở mắt quở trách rằng:

      -Sanh tử là việc thường ,có sanh phải có diệt, có hiệp phải có ly, có đến phải có đi, có gì đáng mà làm rối loạn ta như thế?

      Mọi người đều thức tỉnh, yên lặng không dám khóc nữa, Ngài ngồi kiết già (Utkutukàsana), tự nhiên thoát hóa. Ngài hưởng thọ được 62 tuổi.

      Vua Trần Nhân Tôn nhớ ơn Ngài tận tâm dạy bảo, nên sắc chỉ một họa sĩ đại tài, họa chân dung Ngài để phụng thờ tại hoàng cung và đem đạo lý của Ngài tuyên dương, truyền bá khắp nơi, rồi lập phái Trúc Lâm truyền trì cho đến ngày nay.

HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ (Đời Hậu-Lê)

      Hương Hải là một thanh niên tuấn tú, con nhà trâm anh thế phiệt, học rộng tài cao, văn chương lỗi lạc. Thân phụ Ngài làm đến chức quận công, thanh liêm, chánh trực, về sau được phong làm công thần triều Nguyễn.Nhờ tài trí sẵn có, nên mới 18 tuổi Ngài đã đậu Hương cống (cử nhân bây giờ) sau đó được mời vào cung chúa Nguyễn, Ngài được bổ nhiệm làm Tri phủ ở đất Triệu Phong. Lúc Ngài được 25 tuổi, Ngài rất hâm mộ giáo lý Đạo Phật, thích tu học và nghiên cứu các danh tăng. Nghe vị sư nào thông hiểu đạo lý là Ngài đến tham học và cầu giải những điều thắc mắc, liên tiếp trong thời gian ba năm. Một hôm, Ngài suy nghĩ:

“Nhơn gian phú quí hoa gian lộ,

Thế thượng công danh thủy thượng âu”.

Nghĩa là sự sang giàu trên cõi đời này chẳng khác nào sương móc nằm giữa cánh hoa, còn công danh sự nghiệp ở thế gian chẳng khác gì bọt nổi trên mặt nước.

      Ngài xin từ quan rồi phát tâm xuất gia tu hành, học hỏi đạo lý. Được rảnh rang thế sự, Ngài dạo chơi non Tiêm Bút La ởNamhãi, rồi tạo lập một tịnh thất, chuyên tâm tu niệm. Đạo hạnh của Ngài ngày càng thăng tiến, khiến mọi giới xa gần đều hâm mộ sùng kính.

      Chúa Nguyễn phúcChu(1691-1725) kính mến đức độ và tài năng của Ngài, nên sai Sứ thần ra Nam Hải thỉnh Ngài về triều. Vì thấy cần phải hóa độ chúng sanh và cũng vì lòng thiết tha của chúa Nguyễn, nên Ngài thu xếp trở về lục địa. Chúa Nguyễn đích thân ra nghinh đón Ngài với lòng trọng kính. Vua thiết lập tu viện Thiền Tĩnh tại núi Qui Cảnh, và thỉnh Ngài về thường trú tại đó. Về sau có người sàm tấu với chúa Nguyễn: Hương Hải với Gia quận công tìm cách về phương bắc với Chúa Trịnh. Chúa Nguyễn xét lại không thấy gì khả nghi, nên truyền lịnh mời Ngài vào Quảng Nam.Cũng vì tiếng thị phi ấy mà Ngài quyết định ra Bắc thật. Khi thuyền của Ngài và 50 đệ tử vừa đến Nghệ An, quan trấn thủ Trịnh Na lập tức tâu về triều, Chúa Trịnh liền cho thuyền rồng đón Ngài về kinh đô. Trong thời gian ngắn, Hương hải Thiền sư kiến tạo một tịnh thất tại Trấn SơnNamđể tu hành và hóa đạo. Ngài phiên dịch và chú giải kinh điển ra chữ nôm được ba mươi thiên.

      Lúc Ngài 80 tuổi, vua Dũ tôn (1706-1729) vì hiếm con, nên thỉnh Ngài vào cung để thiết đàn cầu tự. Ngài hết lòng lo việc này nên nhà vua rất kính trọng. Thỉnh thoảng vua đem việc đạo lý ra hỏi, Ngài ứng đối rất thông suốt. Một hôm vua hỏi:

      -Trẫm nghe Thiền sư thông kinh quán luật, vậy xin Ngài giảng giải để trẫm hiểu thêm Phật pháp.

      Ngài tâu rằng:

      -Kinh điển rất nhiều, không thể nào giảng giải cho hết, bần đạo chỉ có bốn câu kệ này xin bệ hạ lưu tâm, suy nghĩ:

“Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

Đương lai diện thượng đổ sư nhan”.

      Dịch:

“Nghe lại điều mình thấy mỗi ngày,

Suy đi nghĩ lại kỹ càng hay.

Chớ tìm tri thức trong cơn mộng,

Có thế mới hay nhận được Thầy

                  (Đạo).

      Hoàng đế hỏi tiếp:

      -Thế nào là đại ý của Phật?

      Giây lâu Ngài tâu:

“Nhạn quá trường không,

Ảnh trầm hàn thủy.

Nhạn vô di tích chi ý,

Thủy vô lưu ảnh chi tâm?”

      Dịch:

“Nhạn liệng giữa không,

Bóng chìm dưới nước,

Nhạn không để dấu ở lại

Nước chẳng lưu bóng làm chi”.

                  (M.T)

      Ngài thường đọc các câu kệ để chỉ giáo tăng chúng, chẳng hạn như các câu:

“Tầm ngưu tu phỏng tích,

Học đạo quý, vô tâm,

Tích tại ngưu hoàn tại,

Vô tâm đạo dị tầm”.

      Dịch:

“Tìm trâu tìm dấu chân trâu,

Dấu còn trâu chẳng mất đâu bao giờ,

Những người học đạo chớ ngờ,

Vô tâm thì đạo có cơ để tìm”.

                  (M.T)

      Hương Hải thiền sư là một thi sĩ, Ngài làm thơ đượm mùi Nho lẫn Phật, ý nghĩa xâu xa, tế nhị:

“Thành thị du lai ngụ tại triền,

Tùy cơ ứng biến mỗi thời thiên,

Song chiêu nguyệt đáo thuyển sàn mật,

Tùng tiếu phong suy tịnh khách miên.

Sắc ưởng lâu đài minh sắc diệu,

Thanh truyền chung cổ diễn thanh huyền.

Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể,

Nhậm vận hà tằng ý hữu thiên”.

      Dịch:

“Chán cảnh phồn hoa mến cảnh thiên,

Tùy thời mới hiệp lẽ đương nhiên,

Trăng dòm song mở giường kê sát,

Gió thổi tung reo giấc ngủ yên,

Lóng lánh lâu đài màu huyền diệu,

Nhịp nhàng chuông trống tiếng y huyền.

Cho hay nhất thể đồng Tam giáo,

Đạo cả chưa từng lệch một bên”.

                  (M.T)

      Qua bài thơ trên, chúng ta nhận thấy lúc nào Thiền sư cũng nhớ mình là một nho giáo trở về với Phật giáo. Ngài mong muốn hai nền đạo giáo hổ trợ lẫn nhau để cho cả hai càng thêm sáng tỏ, để diệt trừ sự câu chấp của hậu thế.

      Đạo Phật lúc ấy tuy còn hưng thịnh, nhưng trên thực tế đã mất nét vàng son của các đời vua trước. Vì thế nên phải đề xướng chủ thuyết “ Nhất thể” để mong thân cận với Nho giáo và Lão giáo. Chính lúc ấy Nho giáo cũng trong thời kỳ suy nhược, nên cũng muốn dựa Phật giáo để chấn hưng tinh thần. Trong thời kỳ này, nhiều vị Nho gia đã trở về với Đạo Phật, mà Hương Hải Thiền sư là một. Cũng trong thời này, Ông Trịnh Huệ cũng đề xướng chủ thuyết “ Nhất thể” và soạn sách (Tam giáo nhất nguyên) để giảng giải ba đạo giáo cùng một nguồn gốc. Sách này rất hữu ích cho những người muốn tham cứu cả ba đạo giáo.

      Trong thời kỳ đó, Đạo Phật ở miền Bắc cũng đi vào con đường đình chỉ. Cũng vì tình thế trong nước quá hổn tạp, nội loạn, ngoại xâm thường xảy ra khắp nơi, nên các vị danh sư phải ra gánh vác nhiệm vụ cứu dân, cứu nước.

      Những gương sáng của chư Phật, chư Tổ và chư vị Hiền Thánh Tăng đã phản chiếu trung thực trong tiềm thức của muôn loài chúng sanh. Các Ngài đã ra đời để cứu độ chúng sanh. Chúng ta hãy noi theo gương sáng và hành động đúng theo lời dạy chân chánh của các Ngài trên bước đường giải thoát.

PHẬT PHÁP và NHƠN SINH (Buddha-Dhammo ca Manussatto ca)

      Nói đến giáo pháp của Đức Phật, người đời thường nói “ Phật pháp rộng lớn không ngằn mé”. Câu nói ấy không có nghĩa đức Phật có pháp thuật thiên biến vạn hóa, khiến cho người đời khó suy nghĩ tưởng tượng, mà chỉ nói giáo lý của Ngài, rộng lớn như biển cả, mênh mông không bờ bến, cũng giống như những áng mây lành che mát khắp nhơn loại, dù chúng ta có đem hết nghị lực một đời cũng không đủ để nghiên cứu, tìm hiểu tường tận, trừ những bậc đã giác ngộ. Vì giáo lý của Đức Phật quá nhiều không thể tìm hiểu trong một thời gian ngắn mà cho là hoàn tất được, cho nên trong bài này, chúng tôi chỉ xin trình bày về phương diện Phật pháp quan hệ đến đời sống nhơn sinh mà thôi.

      Phật pháp chính là giáo pháp của đức Thích Ca Mâu Ni. Về đời sống lịch sử của đức Phật,tưởng ở đây không cần nhắc lại làm gì. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha) là người đã giáng sanh ở nhơn gian, thành đạo ở nhơn gian, thuyết pháp ở nhơn gian và nhập Niết bàn cũng ở nhơn gian, do đó giáo pháp của Ngài rất quan hệ mật thiết đến đời sống nhơn sinh.

      Phật pháp là chơn lý để xương minh nguồn gốc nhơn sinh và cũ trụ. Đức Thích Ca Mâu Ni tự Ngài tu chứng giác ngộ chơn lý nhơn sinh vũ trụ, về sau vì muốn cho mọi người đều giác ngộ, nên Ngài đã dùng phương tiện diễn nói Phật pháp. Khi còn tại thế, Ngài nói rất nhiều giáo pháp, trải qua thời gian sau các hàng Thượng túc đệ tử của Ngài, kết tập lại chia thành ba tạng (Tripitaka) và 12 bộ kinh điển (Dvàdasa Sùtra) bao trùm đạo lý mà  đức Thế Tôn đã tuyến nói trong 49 năm trường, gồm có 84000 pháp môn, vô lượng diệu nghĩa. Tuy nhiều vô số, nhưng chỉ có 4 đạo lý được coi là trọng yếu hơn hết, không những bên Nguyên thỉ Phật giáo (Theravàda Buddhism), đã dùng làm kim chỉ nam, mà cả bên Đại thừa Phật giáo (Mahàyàna Buddhism) cũng công nhận đó là giáo lý căn bản vậy.

      Bốn đạo lý căn bản trọng yếu ấy là gì?

      1-Vô thường (Aniccà),

      2-Khổ (Dukkha),

      3-Không (Sunnata) và

      4-Vô ngã (Anattà),

      1-Nói về vô thường (Transiency), tất cả sự vật trên thế gian này không có vật nào không biến chuyển, xê dịch trong từng giờ, từng khắc, tất cả đều thay đổi không ngừng trong từng sát na. Vì sự chuyển hóa vô thường, nên nhơn sinh có sanh (Jàtir), già (Jarà), bịnh (Vyàdhi) và chết (Maranaduhkham); thế giới có thành (Vivarta Kalpa), trụ (Vivarta Siddha Kalpa), hoại (Samvarta Kalpa) và không (Samvarta Siddha Kalpa). Chỉ có người không để ý, mới không nhận chân được sự xê dịch trong từng giây phút của sự vật. Trung Quốc có câu: “ Thương hải biến tang điền, tang điền biến thương hải” .Nghĩa là biển cả chuyển thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành biển cả. Câu nói này để thuyết minh mọi sự vật ở thế gian đều vô thường biến chuyển.

      Nhiều người trong tâm niệm cố chấp hư vọng, cho rằng mọi sự vật ở đời là thường trụ bất biến; do đó tham cầu không chán nản, tất cả mọi vật cho rằng của mình vĩnh viễn, rồi khởi hoặc tạo nghiệp, luân chuyển trong đường sanh tử, không thể nào giải thoát được. Thế nên, Phật pháp chỉ bày ý nghĩa vô thường , mục đích chính là muốn phá trừ vọng chấp của nhơn sinh, Người học Phật hiểu rõ đạo lý vô thường này, có thể thấu suốt tất cả nhơn sinh đều như mây nổi giữa hư không, như bóng in trên mặt nước, toàn là hư huyễn không thật. trong kinh Kim Cang (Vajracche-dikà-Pràjnàpàramità-Sùtra) đức Phật nói rằng: “ tất cả pháp hữu vi, như chiêm bao, như bọt nước, như sương cũng như chớp, phải khởi quán như vậy”. Cũng đồng với ý này, trong bộ Visuddhi magga (Thanh tịnh đạo) có nói:

      “Sabbe sankhàrà aniccàti

       yadà pannàya passati

      atha nibbindati dukkhe

      esa maggo visuddhiyà”.

      Nghĩa là: “ Tất cả mọi sự vật đều vô thường, khi chúng ta nhận thức sự thật này bằng  trí tuệ, rồi chúng ta nhận sự sợ hãi trong đau khổ ấy (cả thân và tâm). Đó là con đường thanh tịnh”.

      2-Nói về sự khổ (Sorrowfulness), trên tâm lý chúng ta có tham (lobho), sân (doso), si (moho) và các thống khổ phiền nhiễu não loạn; trên thân thể chúng ta có già (age), bịnh (sickness), chết (death), mang lại mọi đau khổ triền miên; ở trong gia đình chúng ta có những thống khổ thiếu ăn thiếu mặc, khổ sinh ly tử biệt; giữa xã hội chúng ta có sự đau khổ, phải quấy, đấu tranh, oán tắng tương hội; ngoài ra trong tâm chúng ta còn có các nỗi khổ cầu việc gì không được, bên ngoài có các thống khổ gió, nước, đao binh, ôn dịch v.v.. Người sống ở đời, thật tại bị đau khổ quá nhiều! Sự khổ hằng ngày, hằng giờ khống chế, uy hiếp, làm phiền phức, làm suy yếu chúng ta, không cho chúng ta được yên vui giải thoát. Tóm lại, mọi sinh hoạt của nhơn sinh đều nằm trọn trong bể khổ mênh mông.

      Bình thường, chúng ta không ưa nhắc đến cảnh khổ, vì nói đến khổ khiến tâm hồn buồn chán, vì nhớ đến những khổ não đã xảy ra trong đời mình; nhưng trong thực tế chúng ta găp quá nhiều đau khổ trong kiếp sống, khiến chúng ta không thể không bàn đến sự khổ não của trần thế được. Mục đích học giáo lý của đức Phật là để lìa khổ đặng vui, thế nên chúng ta trước phải nhận định sự khổ, hiểu biết mọi sự khổ rồi mới có thể tìm cách dứt trừ, tu tập Phật pháp, cầu cảnh giới an vui, do đó biết khổ là cửa ngõ để vào đạo, mà cũng là con đường đi đến Niết bàn. Trong tập Dhammapada (Kinh Pháp Cú) cũng đã nói:

      “Sabbe sankhàrà dukkhàti

      yadà pannàya passati

      atha nibbindati dukkhe

      esa maggo visuddhiyà”.

      Nghĩa là :” tất cả vướng vào mọi sự vật đều là khổ, khi chúng ta nhận thức chân lý này qua kiến thức trí tuệ, rồi nghĩ đến sự khổ não này (thân và tâm). Đó là con đường thanh tịnh”.

      3-Nói về không (The empty). Không là gì? Không là duyên khởi.Tất cả hình hình,sắc sắc, sự sự, vật vật trên thế giới này, đều do nhơn duyên hòa hợp mà sanh khởi. Nhơn là điều kiện chủ yếu sanh khởi sự vật. Duyên là điều kiện phụ trợ tăng trưởng sự vật; nhơn duyên tổ hợp sự vật theo đó sanh khởi tồn tại; nhơn duyên ly tán, sự vật liền theo đó tiêu diệt, tiêu diệt tức là trở về với trạng thái không. Do đó Phật pháp nói không, chính là duyên khởi tánh không, chớ khôn phải nói là không trơn, không như lông rùa sừng thỏ. Biện minh rõ ràng thêm, chính tất cả sự vật đều do nhơn gá duyên mà sanh, ly khai nhơn duyên thì không có tự tánh cố định, vì không có tự tánh cho nên nói là không. Thân thể con người chúng ta là do đất (Prthividhàtuh), nước (Abhàtuh), gió (Vàyudhàtuh) và lửa (Tejodhàtuh), bốn đại tổ hợp mà thành, bốn đại ly tán, thân thể không tồn tại, đó chính là không. Kỳ thật, cái không của bốn đại này ly tán, lại từ ý nghĩa thiển cận mà nói; nếu đi sâu vào một tầng nữa, thân thể chúng ta do tứ đại hợp thành, thời gian hiện tại chính nó đã là không, chớ không cần đợi lúc bốn đại ly tán mới nói là không, bởi vì bản chất của bốn đại, đương thể là không.

      Trong kinh Pàli có câu: “ Dhàtumattaka, nissatto,nijjivo,sanno”. Nghĩa là: “sự vật chỉ là yếu tố vật liệu, nó không có thật thể, nó không có đời sống tồn tại, nó là không”.

      4-Nói về vô ngã (Soullesness) Ngã là gì? Chữ ngã trong chữ Hán, bên trái là chữ thủ là tay, bên mặt là chữ qua, qua nghĩa là can qua (chiến tranh), đại biểu cho đồ binh khí, một khi cơn giận nổi lên, sát khí đùng đùng, thật rất nguy hiểm đối với chúng ta. Vì vậy, người có ngã tướng nặng thì ngã chấp sâu, ngã không phải là một sự vật tốt. Nhưng có một số người cho rằng mỗi người đều có bản ngã, vậy cái ngã ấy ở đâu?” Họ sẽ trả lời là ở khắp trong cơ thể, hoặc trong đầu óc và họ có thể bảo rằng: “đây không phải là ngã, chớ là cái gì?”.Sự thật, thân thể chúng ta do bốn đại giả hiệp, trên căn bản thì không có cái ta. Thông thường có một số người nhận sanh mạng cho là ngã, chúng ta căn cứ trong Phật pháp, phân tách tỉ mỉ, thân mạng chúng ta đều do năm uẩn (Pancaskandha) tổ hợp mà thành. Năm uẩn là sắc (Rùpa) thọ (Vedanà), tưởng (Sanjnà), hành (Samskàra) và thức (Vijnàna). Sắc uẩn thuộc vật chất, thọ, tưởng ,hành, thức bốn uẩn thuộc về tinh thần. Trong bốn uẩn thuộc về tinh thần ấy, thức uẩn là chủ thể của tinh thần, còn thọ, tưởng, hành ba uẩn là phụ thuộc của tinh thần. Sanh mạng thể của chúng ta do năm uẩn này tổ chức làm thành, nó chỉ là giả hợp nhơn duyên, không có tự thể, không được tồn tại, Do đó gọi là (vô ngã). Trong Visuddhi Magga (Thanh tịnh đạo) đã cho một bài kệ như vầy:

      “Sabbe dhammà anttà ti

      yadà pannàya passati

      atha nibbindati dukkhe

      esa maggo visuddhiyà”.

      Nghĩa là: “tất cả sự vật (có hình thái hay không hình thái) đều là vô ngã-khi chúng ta nhận thức được sự thật này do trí tuệ sáng suốt của chúng ta, lúc ấy chúng ta lo lắng sự khổ não này (cả thân và tâm). Đây là con đường thanh tịnh”.

      Triết lý của Phật giáo, mặc dù có cao sâu, nhưng không phải là một Tôn giáo chỉ giảng lý thuyết suông, mà đặc biệt chú trọng ở sự thật hành. Chính là muốn đưa nhơn sanh đến chỗ giác ngộ, ở trong sự sinh hoạt thực tiển hằng ngày, lý thuyết phối hợp với thật hành, nói, làm được duy nhất. Đó là phụng hành Phật pháp một cách chơn chánh.

      Nhà Đại văn hào Tô Đông Pha, triều nhà Tống ở Trung Quốc là một tín  đồ Phật giáo, thông suốt Kinh (Sutta), Luật (Vinaya) và Luận (Abhidhamma). Ông có người bạn thân là Ngài Phật Ấn thiền sư ở chùa Kim Sơn. Một hôm nhà văn Tô Đông Phá đến chùa Kim Sơn thăm ngài Phật Ấn, ông ngồi chính chỗ tòa giảng kinh. Thính chúng trong đại giảng đường vừa tụ họp đông đủ. Lúc bấy giờ, Ngài Phật Ấn Thiền sư đối với Tô Đông Pha muốn đả phá thiền phong nên nói rằng: “ Nơi đây không có chỗ để Học sĩ ngồi”. Nhà văn họ Tô là người học Phật, tham thiền nhiều năm, nên sau khi nghe xong, liền dùng lời lẽ thiền tôn đáp lại:” Tại sao không tạm mượn thân tứ đại của thiền sư làm tòa cho tôi ngồi?”.Ngài Phật Ấn thiền sư là một cao tăng, hành giải tương ưng, tu học uyên bác, lúc ấy liền mỉm cười nhìn Tô Đông Phá và nói: “Lão tăng có một vấn đề xin hỏi Học sĩ, nếu Học sĩ đối đáp thông suốt, lão sẽ đem thân này cho Học sĩ ngồi,nhược bằng đối đáp không thông, xin Học sĩ giao “ Ngọc đới” để trong chùa này, hằng trấn sơn môn”. Văn sĩ nghe xong rất đắc ý, ông cho rằng mình đã thông suốt Phật pháp, có gì mà lo sợ, nên hoan hỷ nói rằng: “ Tốt lắm! tốt lắm! Xin ngài cứ hỏi”. Phật Ấn Thiền sư hỏi rằng” “ Thân tôi bốn đại đều không, năm uẩn không có tự ngã, xin hỏi Học sĩ lấy cái chi mà làm chỗ ngồi?”. Đại học Sĩ Tô Đông Pha, tuy thông kinh quán luật, nhưng không trả lời được câu hỏi. Thấy thế Phật Ấn thiền sư liền nói tiếp: “Thế thì mang “ Ngọc đới” của Vua ban, để trong chùa Kim Sơn này làm kỷ niệm”. Từ ấy chùa Kim Sơn thâu được “ Ngọc đới” của Tô Đông Pha. Đây là câu chuyện thời xưa, được truyền lại thành giao thoại muôn đời.

      Giáo pháp của đức Phật tuy chia ra rất nhiều, nhưng bốn đạo lý vô thường, khổ, vô ngã như đã trình bày ở trên, chính là yếu nghĩa tối căn bản vậy.

      Sau đây, xin bàn đến ý nghĩa nhơn sinh. Giải thích về nhơn sinh, mỗi người đều hiểu không đồng nhau, đại khái không ngoài bốn thứ: 1) Sinh mạng (life); 2) Sinh hoạt (to endow with life); 3) Sinh tồn (survival) và 4) Sinh tử (life and death). Ba thứ trước thì liên tục, nhơn vì sinh mạng là nối dài đời sống con người, cần phải có mọi sinh hoạt thích đáng, vì có sinh hoạt thích đáng nên mạng sống con người mới có thể sinh tồn. Do đó, sinh mạng, sinh hoạt cùng sinh tồn là ba nghĩa nằm trong một thể, nhưng, nhơn sinh thì gồm chung cả sinh mạng, sinh hoạt và sinh tồn.Trong ấy chỉ đề ra một vấn đề là sinh hoạt của nhơn sinh. Người xưa ở Trung Quốc cũng như ở Ấn Độ thường luận đến sinh hoạt của nhơn sinh, thường nêu ra hai chữ “thực” (àhàra) và “sắc” (rùpa). Luận về sinh hoạt hiện tại, người ta thường nói: “y (áo mặc), thực (cơm ăn), trụ (nhà ở), và hành (việc làm)”. Không những người xưa nói thực, sắc là tốt, mà người đời nay cũng nói y, thực là tốt vậy. Thực, nói tổng quát có hai thứ: tức là đồ ăn thuộc về vật chất và đồ ăn thuộc về tinh thần. Thức ăn vật chất là ăn uống để nuôi sống sinh mạng,  khiến sinh mạng được nối dài. Thức ăn tinh thần là văn hóa, kinh sách v.v …để tăng tiến trí thức, đầy đủ khuôn thước để cho nhơn sinh sinh hoạt. Chỉ có sinh hoạt tinh thần mới mang lại cho nhơn sinh mọi niềm an lạc. Một số người chỉ chú ý đến món ăn vật chất, sinh hoạt vật chất; còn đối với sinh hoạt tinh thần, họ không mấy quan tâm. Do đó nhơn sinh bị chìm lặng trong sinh hoạt vật chất, cuối cùng không lối thoát ly!

      Đứng trên quan  điểm Phật pháp mà luận, ngoài sự sinh hoạt có ý nghĩa nhơn sinh, cần phải chú ý đến vấn đề sinh tử, chỉ có điều kiện này, cuộc sống mới có giá trị, sinh mạng mới có chỗ qui thú, và tương lai sẽ mở rộng chân trời mới lạ!

      Sanh tử là một đại sự, Đức Phật Thích Ca đã nói trong kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarìka Sùtra): “ ta vì một đại sự nhơn duyên, xuất hiện ra đời”. Câu “đại sự nhơn duyên” đây chính là chỉ cho sanh tử là việc lớn nhất. Do đó, chúng ta thấy vấn đề sanh tử là trọng đại. Đức Thích Ca là bậc giác ngộ, huệ nhãn của Ngài xem thấy tất cả mặt thật của sự vật. Đời sống của chúng ta bị vô minh phiền não mê lầm, khởi hoặc tạo nghiệp, luân hồi sáu đường, luống chịu nhiều đời sanh sanh tử tử, tử tử sanh sanh, thật đáng thương xót! Vì vậy cho nên, tâm từ bi của đức Phật rất tha thiết, nói pháp độ chúng sanh, không bao giờ nhàm chán. Mục đích của Ngài là kêu gọi nhơn sinh hãy thức tỉnh trong trường đại mộng sanh tử. Vấn đề giải thoát sanh tử là một nhu cầu tối yếu của tất cả mọi người tu Phật giữa Đại thừa và Nguyên thỉ, cũng như các giáo phái khác.

      Ai làm chúng ta bị luân hồi sanh tử? Ai thúc đẩy chúng ta khởi hoặc tạo nghiệp? Ai ở trong luân hồi sanh tử? Câu trả lời là: Tất cả đều do tâm ta làm chủ động. Do đó giáo lý của Phật dạy chúng ta cần phải tu tâm. Nói đến vấn đề tu tâm, có  nhiều người bảo rằng tu tâm chỉ là một việc làm khổ lụy thân mạng. Họ nói: “ Có cảnh vật tốt đẹp phải xem mà không chịu xem; có tiếng giọng dịu dàng nên nghe mà không chịu nghe; có mùi thơm tho nên ngửi mà không chịu ngửi; có vị ngon ngọt nên ăn mà không chịu ăn. Đó thật là một việc làm khổ lụy vậy”. Vì các bạn ấy không rõ vọng tâm chúng ta chẳng khác nào như con ngựa chạy rong ngoài đồng rộng. Nếu không có người cầm dây cương điều khiển, ngựa chạy loạn cuồng sẽ đưa người cỡi đến chỗ nguy hiểm sa hầm sụp hố, nhiều khi đến mất cả thân mạng. Do đó những ai không muốn tu tâm, chỉ cầu hưởng thọ, một khi cơn vô thường đưa đến, tất phải bị đọa lạc trong tam đồ, lục đạo. Vì thế mà việc tu tâm rất cần yếu:

      “Người đời sớm phải tri cơ,

      Gương lu vì bụi, trăng lờ vì mây.

      Chở che nhờ đức cao dày,

      Dẫu tu cho mấy chẳng tày tu tâm”.

                        (Tu-Tâm)

      Mẫu chuyện sau đây, cho chúng ta thấy việc tu tâm rất là trọng yếu: Ngày xưa có một Đại Phú Ông, trong thời gian ngắn cưới liên tiếp 4 bà vợ. Bà lớn rất thỉ chung, hằng ngày chăm sóc Phú Ông, mọi việc rất chu đáo, nhưng Đại Phú Ông lại không ưa thích, vì bà này nhan sắc hơi kém, không hợp nhãn, hợp tình. Bà thứ hai, mặc dù có đủ nhan sắc, nhưng tài năng chưa trọn vẹn, lúc đầu Phú Ông để tâm thương yêu thân thiết, nhưng về sau dần dần phai lạt. Đại Phú Ông cưới bà thứ ba. Bà này không những đầy đủ nhan sắc, mà lại khéo đối xử, nên ngày đêm Phú Ông luyến ái không quên. Nhưng thường tình của chúng sanh được voi đòi tiên, đứng bên này trông bên nọ. Phú Ông lãng quên ba bà trước và sanh tâm điên đảo cưới bà thứ tư. Ông mua sắm cho bà này rất nhiều nữ trang, vàng ngọc, kiềng xuyến v.v…các thứ phấn hương thượng hạng để xông ướp cơ thể và suốt ngày lưu luyến không rời. Nhưng tất bóng dễ qua, cảnh đẹp rồi cũng vô thường biến hoại. Phú ông sống với bà thứ tư trong mọi sinh hoạt rất là đầm ấm, ngày qua tháng lại, thoạt vậy bạc đầu.

      Một hôm, Đại Phú Ông mắc một chứng bịnh khó trị, bịnh hập vào xương tủy, không có phương thuốc gì có thể trị lành được. Khi gần lâm chung, Phú Ông gọi người vợ thứ tư đến bên cạnh giường hỏi: “ Giờ phút cuối cùng này, bà có thể giữ thỉ chung với tôi được không? Tôi tuy cưới bốn bà, nhưng chỉ thương duy nhất một mình bà. Tôi mời bà đến đây, vì tôi không thể rời bà một khắc, hiện nay thầy thuốc vừa cho biết sinh mạng của tôi, không còn duy trì được bao lâu nữa. Vì nghĩ rằng, bà sẽ cô đơn quạnh quẻ khi tôi qua đời,nên tôi muốn bà cùng đồng quan đồng quách với tôi, bà có đồng ý không?” Bà vợ thứ tư nghe xong, dung mạo thất sắc, vội vàng đáp rằng: “ Sao ông lại có thể tưởng tượng như thế? Niên kỷ của ông đá quá cao, chết là dĩ nhiên, tôi còn trẻ đẹp, tội gì lại bắt tôi cùng chết với ông?” Nói rồi bà vội vào trong sửa soạn khăn gói ra đi, không một chút luyến lưu! Phú ông không làm sao ngăn cản được cả. Bấy giờ ông cho đòi bà thứ ba đến, hỏi thăm công việc và phân trần mọi lẽ về cái chết sắp đến của ông. Phú Ông bảo bà này cùng chết một lượt cho trọn đạo can thường. Bà thứ ba nghe rồi , vội vã đáp rằng: “Ông nói gì lạ tthế? Tuổi tôi còn thanh xuân, khi ông chết rồi, tôi có thể tái giá với người khác, đó là lẽ thường tình không có gì đáng trách cả”. Trả lời xong, bà cấp tốc từ biệt người chồng đau khổ đang nằm chờ chết trên giường bệnh. Đại Phú Ông đau đớn tột độ, than thở rên la không ngớt. Sau đó ông liền cho kêu bà thứ hai đến. Phú Ông dùng lời tâm huyết, tỏ cùng bà mọi việc thỉ chung. Phú Ông nói chưa dứt lời, bà thứ hai đã khoát tay nói rằng: “ Không thể được, không thể được, mọi việc trong gia đình, cần tôi trông nom, làm sao bỏ gia can sự nghiệp như thế này để chết theo ông được? Nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng chăn gối, khi ông chết rồi, tôi sẽ đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng”.Thất vọng thêm một lần nữa, lúc bấy giờ ông mới nhớ đến bà thứ nhứt. Ông cho người mời bà đến bên cạnh giường, trông thấy bà, Phú Ông nức nở khóc than, nước mắt tuôn trào, ông nói bằng một giọng khẩn cầu: “Xin bà tha lỗi cho tôi, tôi quả là bạc nghĩa, phụ tình, trong thời gian qua tôi đã đối xử với bà rất tệ bạc. Trong giờ phút khổ đau, đời tôi sắp tàn. mạng tôi sắp hết, các bà thứ tư, thứ ba, thứ hai, đều không chịu cùng chết với tôi, cho trọn tình , trọn nghĩa, riêng bà có đồng ý với tôi đồng quan đồng quách không?” Bà thứ nhứt hoan hỷ đáp rằng: “ Lấy chồng thì phải theo chồng, sống đồng tịch đồng sàng,  chết đồng quan đồng quách, ông qua đời rồi, tôi sống đơn độc, nào thú vị gì, tôi quyết định đồng sanh đồng tử với ông”. Phú Ông nghe nửa rõ nửa không, ông không dám tin bà thứ nhứt lại có lòng hy sinh đến thế, ông hỏi lại một lần nữa: “ Bà đồng ý cùng tôi từ giả cõi đời này một lượt phải không?” Bà thứ nhứt gật đầu đồng ý. Lúc ấy Phú Ông như chiêm bao mới tỉnh, hết sức ăn năn, ông than thở rằng: “ Trước kia, tôi không biết lòng dạ tốt đẹp, trung kiên, trọn đạo can thường, một lòng chung thỉ của bà; tôi đã lỗi đạo, vong ân, chỉ biết lo thương yêu săn sóc cho các người khác, giờ phút này họ đã lìa bỏ tôi, phụ bạc tôi, không chịu cùng với tôi sống, chết. Còn bà,tuy tôi đối xử không tốt, hất hủi đủ điều, từ bao năm qua, bà đã chịu mọi thử thách cô đơn, mà hôm nay, trong giờ phút đau khổ cuối cùng của tôi, bà lại giữ trọn câu “ hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly”. Sau khi thốt ra những lời hối hận, phiền trách, Đại Phú Ông cùng bà vợ thứ nhứt đồng bỏ xác thân, từ giã trần ai, về nơi âm cảnh!

      Mẩu chuyện này, xưa kia đức Thích ca đã giảng nói, thí dụ cho hàng đệ tử của ngài nghe. Trong mẩu chuyện có 4 phụ nữ, và một Đại Phú Ông, đó chính là chỉ cho thân mạng, tài sản, quyến thuộc của mỗi chúng ta. Mỗi cá nhơn đều lo cho thân thể mình tốt đẹp, rồi quên hẳn việc trau dồi tâm tánh sáng suốt của mình. Bà vợ thứ tư của Phú Ông, ngụ ý chỉ cho thân thể chúng ta, mỗi người chỉ lo trau chuốt thân mình cho đẹp đẽ, trang sức cho mỹ lệ nhưng vẻ đẹp bên ngoài, không giúp ích gì cho sự giải thoát cả. Bà vợ thứ ba tỏ ý muốn cải giá với người khác, chính là chỉ cho tiền tài của chúng ta, sau khi chúng ta thở hơi thở cuối cùng, tiền của mà ta hằng yêu quý sẽ về tay người khác cất giữ và chi dùng. Bà vợ thứ hai, chính là chỉ cho bà con, bằng hữu ở thế gian, họ bận lo công việc mưu sinh, không có thì giờ, nên khi chúng ta từ giã cõi đời, họ phải lo bảo thủ gia  đình, chỉ có thể đưa chúng ta những bạn thân của họ một đoạn đường, đến nơi an nghỉ cuối cùng, thế thôi! Bà vợ thứ nhứt, quyết chí hy sinh đến cùng, thỉ chung với Đại Phú Ông chính là chỉ cho tâm chúng ta, tâm thường theo chúng ta từng giờ, từng phút, vui đồng hưởng, khổ đồng lo, vì chúng ta mà phục vụ, không bao giờ xa cách chúng ta, mặc dù có nhiều khi ta bỏ rơi không để ý đến. Mẩu chuyện này không những tin tưởng vào đạo pháp, mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa nhắc nhở chúng ta giờ phút nào cũng phải giữ gìn bản tâm như trong khế kinh nói:

      “Tâm như họa sĩ khéo,

      Họa các thứ ngũ âm (Sắc, Thọ,Tưởng,Hành, Thức)

      Tất cả mọi sự vật

      Đều có thể họa được”.

      Hay là câu “ Tam giới duy tâm”, ba cõi đều do tâm tạo tác. Vì thế cho nên, hằng ngày phải lo tu tâm. Nhơn sinh ngoài sự giải quyết vấn đề sinh sống, còn phải chú ý đến vấn đề sanh tử đại sự.

      Giáo pháp của Phật chỉ cho chúng ta thấy, thế cuộc là vô thường, tất cả sự vật ở thế gian này luôn luôn biến chuyển xê dịch. Do đó mọi thống khổ phải tìm cách giải trừ; nếu chúng ta không chịu hướng thượng, thì cái vui tạm bợ ở thế gian sẽ trở thành thảm cảnh cho ngày mai hoặc hậu thế. Nếu chịu khó nổ lực hướng thượng, nỗi khổ vô thường biên hoại kia tự nhiên trở thành an vui vĩnh viễn.

      Phật pháp nói nhơn sinh là thống khổ, thê lương. Do đó cho nên chúng ta không nên cầu an, thúc thủ, không thể vì nghe nói đau khổ rồi sợ sệt, mà chúng ta phải nổ lực tranh thủ, cải tiến cùng vượt qua mọi trở ngại để về với ánh sáng giác ngộ.

      Phật pháp nói tất cả sự vật trong thế gian là duyên khởi tánh không, vì thế chúng ta nên xem, lợi người chính là lợi mình, hại người chính là hại mình, lợi mình cốt ở trong sự cầu lợi cho người, như thế mới đưa đến lợi ích chân thật.

      Phật pháp nói nhơn sinh là do năm uẩn hòa hợp, không có tự ngã. Do đó chúng ta phải dứt trừ ngã kiến, đả phá ngã chấp, tích cực làm việc mưu hạnh phúc cho nhơn quần, cho xã hội, cho quốc gia và cho cả thế giới.

      Giáo pháp của đức Phật là kim chỉ nam để chỉ đạo cho nhơn sinh, cải tiến nhơn sinh, tịnh hóa nhơn sinh. Vì nhơn sinh bị nhiều lớp khổ nạn, nên chúng ta phải nương nhờ sự chỉ đạo thực tiễn của Phật pháp, từ chỗ khuyết điểm đưa đến chỗ ưu điểm, từ bến mê lầm sang bờ giác ngộ, từ biển khổ sanh tử đến con đường giải thoát an vui. Vì thế cho nên, Phật pháp cùng nhơn sinh có quan hệ hết sức mật thiết với nhau, chúng ta phải cố gắng tu tập Phật pháp để đưa nhơn sinh đến mục tiêu cuối cùng là CHƠN (The true),THIỆN (The good) và MỸ (The beautiful).

VÀI ĐẶC ĐIỂM TRONG PHẬT GIÁO.

      Hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sanh tại vườn Lumbini, thuộc nướcNépal, phía bắc Ấn Độ, Ngài vốn là một vị Hoàng tử ưu tú, con vua Suddhoudana. Thái tử Shiddhatta thông minh tuyệt đảnh, văn võ toàn tài. Mặc dù sống trong cung điện ngọc ngà, giàu sang quyền thế, không ai sánh kịp, nhưng sau những lần tiếp xúc với các cảnh sanh, già bịnh, chết, Thái tử lấy làm không vừa ý, an hưởng cuộc sống giả tạo này. Thái tử còn nhìn thấy chế độ giai cấp của xã hội Ấn Đồ lúc bấy giờ. Người ta chia xã hội thành bốn giai cấp một cách bất bình đẳng khiến cho nhơn sinh thống khổ, xã hội nghèo nàn, Thái tử nhận thấy cần phải hy sinh đời sống cá nhơn của mình để tìm một giải pháp cứu vớt vô lượng sinh linh đang chìm đắm trong bể khổ trầm luân, rồi Ngài xuất gia tìm đạo. Sáu năm trường, Ngài tu khổ hạnh, song không kết quả. Nghĩ rằng khổ hạnh không phải là chính đạo, Ngài liền đến dưới cội Bồ đề tại Buddhagaya, tịnh tâm thiền quán. Sau khi ngồi kiết già, Ngài phát đại nguyện rằng: “ Nếu ta không hoàn thành Vô thượng Chánh giác, thà xương tan thịt nát, chớ không rời chỗ ngồi này” (let my skin, sinews and bones alone remain, and let my blood and flesh dry up, yet never will I move from this seat without attaining full Enlightenment).

      Đến ngày trăng tròn tháng Vesak, khi sao mai vừa ló dạng, Ngài bỗng nhiên giác ngộ, chứng thành đạo quả Vô thượng Bồ đề. Sau khi đắc đạo, Đức Thích Ca Mâu Ni, không muốn hưởng thụ cảnh giới an vui một mình mà muốn đem chân lý vô thượng tự mình thân chứng, tùy căn cơ, giáo hóa chúng sanh, khiến chúng sanh bỏ ác làm lành, giải thoát khổ đau, hầu đạt đến an lạc hoàn toàn!

      Đức Phật đến vườn Lộc Giả ở Sarnath chuyển pháp luân, thuyết Tứ Diệu Đế, độ cho năm vị Tỳ Kheo. Năm vị này là Tăng bảo đầu tiên ở thế gian.Lúc bấy giờ đủ ngôi Tam bảo (Tiratana): Đức Phật là Phật bảo Tứ Diệu Đế là Pháp bảo, năm vị Tỳ kheo là Tăng bảo. Đức Phật đối với chúng sanh, sang, hèn, giai cấp, chủng tộc. Với lòng Đại từ bi, mặc dù gian lao khổ cực, Ngài đi chu du khắp xứ, tế độ quần sinh, đem những điều đã giác ngộ truyền dạy cho nhơn sinh. Với nền giáo pháp chân thật, hơn 40 năm trường, Đức Phật đã hóa độ vô lượng, vô số chúng sanh.

      Đến năm 80 tuổi-tức là 2519 năm trước đây,tự biết uyển thân đã đến thời kỳ tàn tạ, Ngài an nhập Niết Bàn tại thành Kusinara, trong rừng Sa-La song thọ, vào ngày trăng tròn. Trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã đi huấn đệ tử rằng “ Mọi sự vật trên thế gian này, có sanh phải có diệt, có hiệp tức có ly, đó là định luật tự nhiên. Ai muốn các pháp hữu vi còn mãi không biến hoại là một điều không thể có. Các con cần phải tinh tấn tu tập, phụng sự chánh pháp, siêng tu giới, định,huệ, diệt trừ tham, sân ,si.Các con phải đoàn kết, để cứu mình giúp đạo, thi hành nhiệm vụ trong tứ phương thiên hạ, lấy việc hoằng pháp lợi sanh làm sự nghiệp, để tiếp nối sứ mạng của Như Lai”.

      Đức Phật là bậc đại bi, đại trí, đại dũng. Chân lý vô thượng của Ngài gồm những phương thức tu tầm, dưỡng tánh, không những khế hợp với trình độ của tất cả các tầng lớp người, mà còn rất thích ứng với hoàn cảnh xã hội hiện tại, nhất là hòa  hợp với các nền văn hóa và dân tộc tính của mọi quốc gia.

      Đạo lý của Ngài từ Trung Ấn Độ truyền sang Népal, Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Cao Ly, Bá Tế, Nhật Bản, Việt Nam, Lưu Cầu quần đảo bằng đường bộ, thường gọi là Bắc Tôn Phật giáo. Từ Nam Ấn Độ truyền sanh Tích Lan, Miến Điện, Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao, Nam Dương quần đảo bằng đường thủy, thường gọi là Nam Tôn Phật giáo. Gần đây lại được truyền đến các nước Âu, Úc, Mỹ, và Phi Châu, hiện nay cũng có các phái đoàn đang truyền bá. Như vậy là giáo lý của Đức Phật đã ảnh hưởng rộng rãi khắp hoàn cầu.

      Nhưng lòng độc ác và tánh nham hiểm của con người đã và đang đưa nhân loại càng ngày càng đi xa đạo đức và lý trí. Loài người dối trá, tương tàn, tương sát lẫn nhau. Một số đông các nhà Khoa học đã rơi vào hố sâu tội lỗi, họ nghiên cứu, phát minh những khí cụ tối tân để giết người, phá hoại! Tai nạn diệt vong mà loài người phải chịu đã và đang đến với chúng ta như hiện nay.

      Về pháp luật, pháp luật là điều tốt đẹp, công bằng ,là căn bản để an dân trị nước. Nhưng pháp luật chỉ có thể dành cho những ai phạm tội, phạm tội thì bị hình phạt, Về phương diện này hình như pháp luật có hiệu lực, nhưng quá tạm thời để cho dân chúng không làm tội ác mà thôi.Nhưng nếu dân chúng không có lý tưởng cao đẹp, một lối sống thuần lương, thử hỏi pháp luật, quân cảnh làm sao thắng được lòng dân? Như thế để cho ta thấy rằng chặt cây mà không đào rễ, chỉ pháp luật, không đủ mang lại an vui thật sự cho loài người. Trong khi đó giới pháp của Đức Phật, chỉ giáo toàn diện , giải thích mọi điều, khiến cho nhân dân sợ tội không phạm mà ngừa quấy ngăn dữ. Sức mạnh của nó phi thường cần thiết, không ai ngăn cản được. Bởi vì giáo lý của Phật dùng lý trí cảm hóa lòng người, tu thiện đoạn ác , sửa đổi tâm tánh, bồi dưỡng đạo đức cho toàn dân. Đó là tác dụng mạnh nhất để giúp cho những nhà chánh trị các nước trên thế giới thi hành nhiệm vụ, lãnh đạo quốc dân.

      Hiện tại, chúng ta cần bàn đến những nguyên lý đặc biệt của nền văn hóa Phật giáo. Rừng giáo lý vô thượng của Phật đà, chúng ta có thể tạm nêu ra 3 đặc điểm:

      1-Phật giáo có một giáo lý căn bản, chỉ dạy người đời nhận rõ nghiệp quả luân hồi. Mỗi người chúngta, tự cho mình tạo nhơ, rồi cũng tự mình hái lấy quả, không phải may rủi, hay ai tạo cho ngoài chính mình. Đạo Nho cũng nói: “ Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, do đời này hay kiếp sau. Mọi người khi tin sâu chân lý “ Thiện ác nghiệp báo” thì không dám làm ác mà cố gắng tu thiện. Đây là điểm thứ nhất để cho chúng ta tin tưởng nền văn hóa Phật giáo hướng thiện được lòng dạ con người.

      2-Phật giáo chủ trương muôn sự vật đều do nhơn duyên tạo thành, nghĩa là hình thành một sự vật phải nhờ nhiều yếu tố hết hợp. Một vật này không thể ly khai trợ duyên của các vật khác mà thành. Thí dụ, một người sinh ra là do cha mẹ, sự giáo dục, sự giúp đỡ, bảo vệ của xã hội, quốc gia, cũng như một cây xoài được thành hình, nguyên nhân chính là nhờ hột xoài và nhờ các trợ duyên phụ thuộc, như là đất, nước, ánh sáng, không khí v.v.. Nếu nhận rõ chơn lý nhân duyên sanh của Phật giáo thì chắc chắn ai cũng thấy cần phải tương thân, tương ái để sống, còn trái lại không ai nở gieo rắc đau khổ và tàn sát lẫn nhau! Đây la đặc điểm thứ hai để chúng ta tin tưởng vào nền văn hóa Phật giáo, chuyển lòng người hướng thiện.

      3- Ngoài hai điểm nghiệp quả và nhơn duyên trên, Phật giáo lại còn có một đặc điểm thứ ba nữa là chủ trương “ Mọi người đều có thể thành Phật”. Mỗi người nếu thật hành đầy đủ pháp môn của mình đã chọn, phước huệ song tu, hoàn thành hạnh nguyện lợi tha, thì sẽ thành Phật. Người đời có tâm niệm muốn thành Phật, đương nhiên trau dồi đức hạnh, nỗ lực mưu cầu hạnh phúc cho người, tạo ra sự nghiệp Chơn Thiện ,Mỹ cho mình.

      Trước khi muốn thành Phật, điều kiện đầu tiên phải hiểu phương pháp độ đời, chúng ta cần phải theo cách huấn luyện, hướng dẫn từng người, cũng như muốn nước nhà thạnh trị, trước phải tề gia, muốn tề gia trước phải tu thân, muốn tu thân, trước phải chánh tâm. Đó là những yếu tố độ đời rất có hiệu quả mà Nho giáo lẫn Phật giáo đều chủ trương. Phật giáo không những là một tôn giáo để cho người tự do tín ngưỡng, mà còn là nền Triết học cao siêu. Phật giáo đã không chống trái với những phát minh của khoa học hiện đại, mà lại có nhiều điểm vượt quá khoa học từ nghìn xưa. Đó là Tâm lý họ và Luân lý học của Phật giáo. Vì vậy Phật giáo là một nền văn hóa bao la sâu rộng. Tinh thần văn hóa từ bi vô ngã của Phật giáo là một phương châm đưa người đời đến nơi cao đẹp.

      Chơn lý của Phật giáo đã vĩ đại như thế, giáo nghĩa của Phật giáo cùng nhơn sinh chúng ta đã có sự liên hệ mật thiết như thế, nghĩa là không phân biệt giai cấp, chủng tộc, chỉ phát dương tinh thần xử thế khoa học để cứu đời, giúp người.là Phật từ, là học sinh của trường Bồ đề, chúng ta nếu muốn đem giáo pháp của Phật gieo rắc trong nhơn gian, chúng ta phải nỗ lực hoàn thành công tác vĩ đại như sau:

      A-Phải khuyến khích thanh, thiếu niên nam nữ nghiên cứu Phật học và học Phật để phát dương chơn lý vô thượng của Phật giáo. Bởi vì mỗi thanh, thiếu niên thấm nhuần Phật pháp rồi, hiện tại và tương lai, họ có anh em, tạo cho con em đầy đủ căn lành, được Phật hóa trong gia đình và ngoài xã hội, tự nhiên chúng được thuần thành. Đời đời truyền nối như thế, Phật pháp do đó được sâu rộng trong nhơn gian. Muốn có những thanh, thiếu niên học Phật, chúng ta phải gắng sức đem giáo lý của Phật ra kiến thiết trong nền văn hóa mới của quốc gia và thế giới ngày nay, như thiết lập những phòng đọc sách công cộng, phiên dịch trước tác bằng quốc ngữ và Anh ngữ xuất bản báo chương Phật giáo, Phật học đặc san và tổ chức diễn đàn nhiều nơi, sản xuất phim ảnh Phật giáo, tạo cơ hội phát thành, truyền hình trong tinh thần truyền bá Phật giáo. Chuyên chú ở điểm thích hợp như thế, chúng ta làm được như vậy thì lo gì Phật pháp không phổ biến sâu rộng khắp trần gian u tối này.

      B-Xét rộng vấn đề giáo dục Phật hóa.Học sinh là tiên phuông của nền văn hóa, là mạng mạch của quốc gia và là lớp trung kiên của xã hội. Vì chúng có một tầm mắt tinh nhuệ và khối óc trẻ trung, nên chúng có thể học hỏi, nghiên cứu vấn đề bao la của Phật giáo được tường tận. Tương lai của chúng sẽ phục vụ trong các ngành, nhứt là ngành giáo dục, tự nhiên chúng sẽ mang giáo lý gieo rắc cho đoàn học sinh tương lai. Chúng sẽ lãnh nạp, hướng dẫn một phần sự nghiệp đạo đức, tạo thành tư tưởng thanh tịnh xuất thể trong Phật giáo và trao lại cho người mai hậu, góp công kiến thiết quốc gia, xây dựng xã hội. Như thế từ Tiểu học, Trung học đến cấp Đại học, Phật pháp tùy phương tiện giáo dục, phổ biến đến hang cùng ngõ hẻm, chẳng những ở toàn quốc mà là toàn thế giới. Ngoài ra, giáo dục cho các tầng lớp người, như sĩ, nông, công , thương, chánh trị gia, luật gia, quân đội, cảnh bịnh v.v…Họ thật hành Phật pháp trong cương vị mỗi người, trong chức vụ mỗi ngành. Khi nào chúng ta đem giáo lý truyền bá được như thế, thì quốc gia và thế giới vĩnh viễn hòa bình, an lạc.

      Chúng tôi thành ý cầu nguyện cho đất nước sớm hòa bình, nhơn dân sớm được an cư lạc nghiệp.


[1] Pancaskandha:Rùpa, Vedanà,Sanjnà, Sanskàsa, Vijnàna

[2] Tâm nghĩ tất cả sự vật liên hệ với ta, đều  do tâm ta làm chủ và nó thuộc quyền sở hữu của ta vậy.

[3] Mắt,tai,mũi,lưỡi,thân và ý.

[4] Tu đa la (Sutrà), Kỳ Dạ (Geya), Dà Đà (gàthà), Ni đà Na (Nidàna), ý đế mục đa (Itivrttaka), Xá đa già (Jàtaka), A phù đạt ma (Adbhuta Dharma), A ba đà Na (Ava-dana), Ưu bà đề xá (Upadesa), Ưu đà na (Udàna), Tỳ Phật lược (Vaipulya) và Hòa già la (Vyàkaranà).

[5] Thinh văn thừa (Sràvakayàna), Duyên giác thừa (Pratyeka Buddhayàna), và Bồ tát thừa (Bodhisattvayàna).

[6] Chánh kiến (Samyak-drsti) chánh tư duy (Samyak-samkalpa), chánh ngữ (Samyak-vàca), chánh nghiệp (Samyak-karmànta), chánh mạng (samyag-àjìva), chánh tinh tấn (Samyag-vyàyàma), chánh niệm (Samyak-smrti) và chánh định (Samyak-samãdhi)

[7] Y pháp bất y nhơn, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức.

[8] Đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai.

[9] Đông,Tây,Nam ,Bắc, ĐôngNam, TâyNam, Đông Bắc, Tây Bắc.

[10] Không sát sanh, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không nói hai chiều, không hỗn hào, không nói thêu dệt, không tham dục, không giận tức, và không tà kiến.

[11] Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc (Kàmavacara, Rùpavacara, Arùpàvacara).

[12] Chín cõi: Bồ-Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, Người, A Tu La, Súc sanh, Ngạ quỉ, và Địa ngục.

[13] Devagati (nẻo trời), manusyagati (nẻo người), asuragati (nẻo Atula),tiryagyonigati (nẻo súc sanh),pretagati (nẻo quỉ đói) và narakagati (nẻo địa ngục).

[14] Jaràyuja (thai sanh), andaja (noãn sanh), samsvedaja (thấp sanh) và aupapàduka (hoá sanh).

[15] Điều kiện và kết quả của hành vi tốt hay xấu trong ba cõi: dục sắc và vô sắc, cũng như trong sáu đường.

[16] Mọi điều kiện và kết quả của thiện nghiệp trong các cảnh ngoài sự di trú, gồm các quả A la Hớn và quả Thánh cao siêu hơn.

[17] Pháp thân, bát nhã, giải thoát.

[18] Nghiệp chướng, phiền não chướng và báo chướng.

[19] Trở về ánh sáng bên trong của chính mình, liên hệ tự tánh với nhiệm vụ riêng của chính mỗi người.

[20] Mê lầm về sự thấy biết và suy nghĩ, tức là những ảo tưởng của tri giác chưa hoàn toàn, bị sự cám dỗ của thương, ghét v.v…diệt trừ các tà kiến và mê hoặc, sống theo luật lệ và tịch tịnh của khổ hạnh hay về phật giáo nguyên thỉ. Đại thừa thì thực hiện cao xa hơn với chủ đích của Bồ tát và mang lại nhiều khó khăn cho chính  đương sự.

[21] Ảo tưởng và sự cám dỗ qua nhiều trạng thái mê lầm khác nhau trong nhiệm vụ cứu độ quần sanh.

[22] Các mê lầm và sự cám dỗ xuất hiện từ sự tối tăm, khuyết điểm và các hiểu biết trong thực tại mê lầm của chúng.

[23] Bốn vị ngoại tướng của Đế Thích:

    1-Tướng Dhritarastra (Trì quốc) coi phương Đông.

    2-Tướng Virudhaka (Tăng trưởng) coi phươngNam.

    3-Tướng Virupaksa (Quảng Mục) coi phương Tây.

    4-Tướng Dhanada (Đa văn) coi phương Bắc.

[24] Thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh, thượng phẩm hạ sanh. Trung phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh, trung phẩm hạ sanh.Hạ phẩm thượng sanh, hạ phẩm trung sanh, hạ phẩm hạ sanh.

[25] Bốn chất (mahàbhùta): đầy, nước, gió, lửa.

[26] Giới cụ túc là của Tỳ kheo, sau khi th5 giới này có thể ra hoằng pháp lợi sanh.

[27] Ba môn học thực tập để tiến đến giải thoát là Sìla, Samàdhi, Prajnà.

[28] Sáu thứ thành tựu, mỗi bộ kinh đếu có, đã giảng ở phần đầu.

 Hòa Thượng Thích Huyền Vi

—o0o–

Bài khác nên xem

Thiền Sư Vạn Hạnh- vị Quốc Sư tài ba lỗi lạc

phuocthanh

Giới thiệu tóm lược luận A-tỳ-đạt-ma Đại-tỳ-bà-sa – Tuệ Sĩ

phuocthanh

Lịch sử Đức Phổ Hiền Bồ Tát

phuocthanh